Trình Quốc hội 4 dự án luật do Bộ Tư pháp được giao chủ trì soạn thảo
(PLVN) - Sáng 9/4, tiếp tục chương trình làm việc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã nghe Tờ trình, Báo cáo thẩm tra và thảo luận tại tổ về 4 dự án luật do Bộ Tư pháp được giao chủ trì soạn thảo.
Cụ thể là 4 dự án: Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL); Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về 4 dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết những nội dung đáng chú ý của dự án Luật Hộ tịch (sửa đổi). Trong đó, về thẩm quyền đăng ký hộ tịch: Giao Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký tất cả các sự kiện, thông tin hộ tịch; Các việc tịch được đăng không phụ thuộc nơi cư trú, không phụ thuộc địa giới hành chính.
Về tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch, dự thảo Luật chỉ quy định thẩm quyền, đối tượng, phạm vi của từng thủ tục đăng ký hộ tịch; các quy định cụ thể về thành phần hồ sơ, thời hạn, trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch - là những nội dung dễ biến động, dự thảo Luật giao Chính phủ quy định chi tiết.
Người yêu cầu có quyền lựa chọn nộp hồ sơ, nhận kết quả đăng ký hộ tịch theo phương thức trực tuyến hoặc trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính; dự thảo Luật giao Chính phủ quy định, chi tiết theo hướng trực tuyến toàn trình đối với hầu hết các thủ tục về hộ tịch (trừ thủ tục đăng ký kết hôn, giám hộ phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch khi nhận kết quả - là những việc có điều kiện, cần thể hiện rõ sự tự nguyện, khả năng đáp ứng của các bên).
Về Sổ hộ tịch, chủ yếu sử dụng dữ liệu điện tử; chỉ có việc đăng ký kết hôn mới sử dụng đồng thời sổ điện tử và sổ giấy (phù hợp với đặc thù, truyền thống hai bên nam, nữ phải có mặt để thể hiện sự tự nguyện, ký vào Sổ đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn).
Giấy tờ hộ tịch bao gồm: Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy chứng tử và Văn bản xác nhận hộ tịch. Chính phủ sẽ quy định cụ thể về việc cấp giấy tờ hộ tịch (bản điện tử, bản giấy, bản chính, bản sao).
Còn dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng sẽ sửa đổi quy định về giao dịch phải công chứng nhằm thu hẹp phạm vi các giao dịch này. Cụ thể, sửa đổi khoản 1 Điều 3 theo hướng quy định giao địch phải công chứng là giao dịch được Luật quy định phải công chứng, bao gồm giao dịch mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, phân chia di sản, góp vốn, thế chấp có đối tượng là bất động sản giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức không hoạt động kinh doanh bất động sản, di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ và các giao dịch khác có tính chất quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ và mức độ an toàn pháp lý cao.
Đồng thời, bổ sung khoản 3 quy định đối với các giao dịch được quy định tại khoản 1 Điều này mà luật chuyên ngành không quy định phải công chứng thì thực hiện theo luật chuyên ngành đó. Việc sửa đổi, bổ sung như nêu trên nhằm thu hẹp phạm vi giao dịch phải công chứng, đồng thời bảo đảm không xung đột, chồng chéo với các luật chuyên ngành và kịp thời mở rộng phạm vi các giao dịch được công chứng tự nguyện khi đáp ứng đủ điều kiện về hạ tầng, kỹ thuật, hệ thống cơ sở dữ liệu mà không cần phải sửa đổi Luật Công chứng.
Dự thảo Luật cũng sửa đổi các quy định để đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng.
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL đã sửa đổi, hoàn thiện quy định về diện người được TGPL. Theo đó, bỏ điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với các nhóm đối tượng: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật vì đây là nhóm đối tượng đặc thù về nhân thân hoặc bị ảnh hưởng về thể chất, tinh thần (nhóm người nhiễm chất độc da cam và người khuyết tật).
Về người thực hiện TGPL, dự thảo Luật bổ sung quy định trợ giúp viên pháp lý chuyển công tác đến Trung tâm TGPL thuộc địa phương khác thì được cấp lại thẻ, vì thẻ trợ giúp viên pháp lý do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp và quản lý trong phạm vi địa phương, khi chuyển công tác sang địa phương khác và vẫn làm trợ giúp viên pháp lý thì cần thu hồi thẻ ở nơi đã công tác và cấp thẻ ở nơi công tác mới.
Về người có thể trở thành cộng tác viên TGPL, dự thảo Luật mở rộng thêm nhóm người nghỉ hưu là người giữ hạng, ngạch chuyên viên trở lên làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận; bổ sung nhóm viên chức nhà nước có bằng cử nhân luật, có kinh nghiệm làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên và được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nơi làm việc để thu hút nguồn lực có trình độ, có kinh nghiệm làm công tác pháp luật tham gia TGPL. Đồng thời, dự thảo Luật không giới hạn địa bàn được đăng ký làm cộng tác viên TGPL.
Về tổ chức thực hiện TGPL, dự thảo Luật sửa đổi điều kiện thành lập Chi nhánh của Trung tâm TGPL theo hướng không giới hạn việc chỉ được thành lập “tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm TGPL nhà nước và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL”.

Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) điều chỉnh phạm vi thông tin mà UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp theo hướng UBND cấp xã chỉ cung cấp thông tin do mình tạo ra; không cung cấp thông tin do mình nhận được (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật).
Việc điều chỉnh phạm vi thông tin mà UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp nhằm bảo đảm phù hợp với nguyên tắc phân cấp, phần quyền, tăng cường trách nhiệm của cơ quan tạo ra thông tin. Hiện nay, khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, hàng nghìn nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện đã được chuyển cho chính quyền cấp xã, dẫn đến khối lượng công việc của UBND cấp xã rất lớn. Việc quy định UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình nhận được sẽ tạo áp lực lớn cho UBND cấp xã.
Dự thảo Luật không quy định cụ thể cơ quan đầu mối thực hiện cung cấp thông tin như khoản 2 Điều 9 Luật hiện hành, mà quy định UBND cấp tỉnh, UBND cấp xã xác định đơn vị đầu mối cung cấp thông tin cho công dân (điểm đ và điểm e khoản 2 Điều 10).
Dự thảo Luật cũng quy định khái quát trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, như trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin; rà soát, phân loại, kiểm tra, bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp; duy trì, lưu giữ, cập nhật cơ sở dữ liệu thông tin...
Về phạm vi thông tin, dự thảo Luật sửa đổi các quy định về thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiêp cận có điều kiện (Điều
15 và Điều 16) để bảo đảm cụ thể, đầy đủ, rõ ràng hơn và thống nhất, đông bộ với quy định của pháp luật có liên quan. Việc tiếp cận thông tin thuộc dữ liệu cá nhân thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Việc tiếp cận có điều kiện đối với tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Trình bày tóm tắt Báo cáo thẩm tra về 4 dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành sự cần thiết, mục đích xây dựng 4 Luật; cơ bản tán thành với phạm vi sửa đổi, bổ sung của các dự án Luật. Nội dung của 4 dự án Luật cơ bản phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm tính hợp Hiến, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Hồ sơ các dự án Luật đã được Chính phủ chuẩn bị nghiêm túc, công phu, bảo đảm đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, đề nghị Chính phủ chỉ đạo tiếp tục rà soát quy định của 4 dự thảo Luật để bảo đảm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ trương, đường lối có liên quan của Đảng, quan điểm về đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật; tiếp tục rà soát về nguồn tài chính và nguồn nhân lực để bảo đảm quá trình tổ chức thực hiện khả thi, hiệu quả.