Trách nhiệm với môi trường của các nhà sản xuất, nhập khẩu

Trách nhiệm với môi trường của các nhà sản xuất, nhập khẩu
Ảnh minh họa - VnEconomy

(PLVN) - Theo một thống kê, chỉ riêng với rác thải nhựa, mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 3,5 triệu tấn. Thế nhưng, chỉ 1,28 triệu tấn (33%) được tái chế. Có đến 65% rác thải nhựa tại Việt Nam có nguy cơ bị rò rỉ ra sông, hồ, kênh, rạch, biển hoặc thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm đất, nước, không khí.

Đó mới chỉ là tính riêng rác thải nhựa. Nếu tính các loại rác thải tái chế khác như bao bì, giấy, bìa carton, kim loại, thủy tinh, nhôm; rác thải nguy hại (pin, ắc quy hỏng)… thì con số trên còn lớn hơn nhiều lần.

Với tinh thần hạn chế ô nhiễm môi trường, ràng buộc trách nhiệm bảo vệ môi trường (BVMT) ngay từ gốc rễ, mới đây Chính phủ ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (SXNK), sẽ có hiệu lực từ 25/5. Đối tượng áp dụng là các DN sản xuất trực tiếp ra sản phẩm, các bên đặt gia công, các bên được ủy thác nhập khẩu các nhóm ngành hàng như bao bì giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh, săm lốp cho đến các thiết bị điện tử, ắc quy, pin, dầu nhớt, phương tiện giao thông đường bộ… Riêng với các nhà SXNK có tổng doanh thu từ các sản phẩm, bao bì thuộc diện phải tái chế dưới 30 tỷ đồng/năm, sẽ được miễn thực hiện trách nhiệm này.

Theo quy định mới, tỷ lệ tái chế bắt buộc là tỷ lệ khối lượng sản phẩm, bao bì tối thiểu phải được tái chế, dựa trên tổng khối lượng mà nhà SXNK đưa ra thị trường trong năm đó. Ví dụ, với nhóm bao bì, tỷ lệ dành cho nhôm và nhựa PET cứng là 22%. Nghĩa là nếu 1 năm, DN đưa ra thị trường 100 tấn bao bì nhôm, nhựa PET thì phải tái chế ít nhất 22 tấn. Trong nhóm các thiết bị điện tử gia dụng, điện thoại di động chịu tỷ lệ 15%, các loại máy tính, máy in 9%... Ắc quy chì, pin sạc nhiều lần (trừ pin lithium, pin Nickel-Metal Hydrid dùng cho xe điện)... 8 - 15%. Các tỷ lệ không cố định mà được điều chỉnh tăng theo chu kỳ 3 năm/lần. Các nhà SXNK có quyền lựa chọn 1 trong 2 hình thức để thực hiện nghĩa vụ tái chế. DN có thể tự tái chế nếu đủ năng lực, thuê đơn vị tái chế chuyên nghiệp hoặc ủy quyền cho một tổ chức trung gian tổ chức các hoạt động thu gom và tái chế thay cho mình. Nếu không, DN có thể thực hiện trách nhiệm bằng cách đóng góp tài chính vào Quỹ BVMT Việt Nam để thực hiện các hoạt động tái chế. Mức đóng góp được tính theo công thức nêu rõ trong Nghị định, tính toán dựa trên khối lượng sản phẩm đưa ra thị trường, tỷ lệ tái chế bắt buộc, mức chi phí tái chế hợp lý cho mỗi đơn vị sản phẩm.

Một điểm rất mới, là Nghị định quy định cụ thể quy cách tái chế bắt buộc, nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm sau tái chế. Việc tái chế không chỉ là thu gom mà phải tạo ra các nguyên liệu hoặc sản phẩm có giá trị sử dụng. Như với bao bì nhựa, buộc phải sản xuất ra hạt nhựa thương phẩm hoặc các sản phẩm cụ thể, chứ không được tính các giải pháp như tạo ra mảnh nhựa hay sử dụng làm nhiên liệu đốt. Với thiết bị điện tử có chứa màn hình hoặc bóng đèn thủy tinh, quy trình phải gồm tháo dỡ, phân loại, xay nghiền thủy tinh để làm nguyên liệu cho các quá trình sản xuất khác như gạch không nung, bê tông.

Các nội dung trong Nghị định 110 được đánh giá là rất cụ thể, thiết thực, linh hoạt; ràng buộc trách nhiệm BVMT một cách chặt chẽ; đồng thời giúp ngăn chặn tình trạng tái chế hình thức, kém hiệu quả, nguy cơ gây ô nhiễm thứ cấp.

Bùi Chánh Yên