TP HCM: Chuyển đổi xanh, hướng tới Net Zero 2050
Trước áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, quá tải hạ tầng và yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh đô thị mở rộng, TP HCM đang xây dựng Đề án Chuyển đổi xanh theo cách tiếp cận tổng thể, liên ngành và có lộ trình dài hạn đến năm 2050.
Sáng 16/1, Viện Nghiên cứu phát triển TP HCM (HIDS) và Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC-HCMC) tổ chức Hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon tại Trung tâm Tài chính quốc tế TP HCM”. Tại đây, ông Phạm Bình An - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP HCM nhận định, thành phố đang đối mặt đồng thời nhiều thách thức mang tính cấu trúc.
Theo đó, tốc độ phát thải khí nhà kính tại TP HCM có xu hướng gia tăng, đặc biệt từ các lĩnh vực năng lượng, giao thông, công nghiệp và tiêu dùng đô thị. Trong khi đó, quá trình mở rộng không gian đô thị thông qua việc sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu đang hình thành một siêu đô thị với diện tích hơn 6.770 km², dân số khoảng 13,6 triệu người, tạo áp lực rất lớn lên hạ tầng, tài nguyên và môi trường. Thực tế cho thấy, tình trạng ùn tắc giao thông, ngập lụt, ô nhiễm không khí, thiếu hụt không gian xanh và quá tải xử lý rác thải đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải thay đổi cách thức phát triển.
Theo ông An, điểm cốt lõi của Đề án Chuyển đổi xanh TP HCM là cách tiếp cận mang tính hệ thống và tổng thể, thay vì triển khai rời rạc từng chương trình, dự án riêng lẻ như trước đây.
Theo định hướng được đề xuất, chuyển đổi xanh của TP HCM được đặt trên nền tảng “chuyển đổi kép”, kết hợp chặt chẽ giữa chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Cách tiếp cận này cho phép thành phố vừa giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên, vừa ứng dụng công nghệ số để nâng cao năng lực quản trị, giám sát và ra quyết định.
Đề án cũng nhấn mạnh phương thức triển khai “từ trên xuống và từ dưới lên”, trong đó chính quyền đóng vai trò định hướng và dẫn dắt, đồng thời khuyến khích sự tham gia chủ động của doanh nghiệp, cộng đồng và người dân. Cách làm này được kỳ vọng sẽ tạo sự đồng thuận xã hội, bảo đảm tính khả thi và bền vững trong dài hạn.

Lãnh đạo HIDS cho biết thêm, một trong những nội dung đáng chú ý là việc xây dựng bộ 76 chỉ tiêu chuyển đổi xanh, bao phủ các lĩnh vực then chốt như năng lượng, giao thông - logistics, hạ tầng đô thị, công nghiệp, thương mại - dịch vụ, nông nghiệp, lối sống xanh, tài chính xanh và nguồn nhân lực xanh.
Trên cơ sở bộ chỉ tiêu này, TP HCM được đánh giá theo 5 cấp độ “trưởng thành xanh”, từ giai đoạn khởi đầu đến giai đoạn dẫn đầu. Việc đánh giá sẽ được thực hiện định kỳ thông qua hệ thống giám sát số, cho phép theo dõi tiến độ, đo lường hiệu quả và điều chỉnh chính sách kịp thời.
Theo lộ trình, TP HCM đặt mục tiêu giảm ít nhất 15% cường độ phát thải khí nhà kính vào năm 2030 so với kịch bản phát triển thông thường; nâng tỷ lệ năng lượng tái tạo lên tối thiểu 35% vào năm 2030 và tiến tới 100% vào năm 2050; đồng thời mở rộng không gian xanh đô thị, phát triển giao thông công cộng sạch và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Để hiện thực hóa Đề án Chuyển đổi xanh, tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2025-2035 được ước tính khoảng 900.000 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách nhà nước dự kiến chiếm khoảng 20%, tập trung vào các hạng mục hạ tầng thiết yếu như năng lượng, giao thông và xử lý chất thải. Phần còn lại sẽ được huy động từ khu vực tư nhân theo hình thức xã hội hóa, PPP và các nguồn vốn quốc tế, ODA.
Bên cạnh đó, TP HCM được đề xuất áp dụng các công cụ tài chính xanh như phát hành trái phiếu xanh đô thị, thành lập Quỹ Chuyển đổi xanh và thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon cấp địa phương, liên thông với thị trường carbon quốc gia. Đây được xem là những cơ chế quan trọng để thu hút dòng vốn dài hạn cho các dự án xanh.
Về tầm nhìn dài hạn, TP HCM đặt mục tiêu đến năm 2050 trở thành siêu đô thị - cảng biển - trung tâm công nghiệp, dịch vụ và tài chính quốc tế, dẫn đầu khu vực về kinh tế xanh, phát thải thấp, gắn với kinh tế tuần hoàn và công nghệ sạch.
Theo ông An, chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu môi trường, mà còn là chiến lược phát triển mới giúp TPHCM nâng cao chất lượng sống cho người dân, tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và khẳng định vai trò đầu tàu đổi mới sáng tạo của vùng Đông Nam Bộ cũng như cả nước.