Tôn giáo và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo: Nơi đức tin gặp gỡ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc - Bài 1: Tôn giáo đồng hành cùng dân tộc
Tính đến hết tháng 12/2024, theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ (nay thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo), cả nước có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, với gần 28 triệu tín đồ. Những con số cho thấy tôn giáo không phải một lĩnh vực đứng ngoài đời sống xã hội, mà là một bộ phận của đời sống tinh thần của đông đảo người dân và có mối liên hệ trực tiếp với nhiều mặt của đời sống cộng đồng.
Việt Nam là quốc gia có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, đa dạng. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhiều giá trị đạo đức, nhân văn của tín ngưỡng, tôn giáo đã giao thoa với truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung của dân tộc. Trong đời sống hôm nay, sự gặp gỡ ấy tiếp tục được thể hiện qua những đóng góp vào an sinh xã hội, giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo, bảo vệ môi trường, xây dựng cộng đồng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ở góc độ pháp luật, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 luôn thể hiện quan điểm xuyên suốt nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về công tác tín ngưỡng, tôn giáo. Thực hiện các nguyên tắc hiến định, Nhà nước Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng phát triển, dân chủ, công bằng và văn minh.
Tôn giáo trong mạch nguồn lịch sử dân tộc
Vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội, trong sự phát triển của đất nước, dân tộc cần được nhìn nhận đồng thời từ hai phía: Tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; Bảo đảm các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và lợi ích chung của cộng đồng, đất nước.
Lịch sử Việt Nam cho thấy, khi tôn giáo gắn bó với cộng đồng, các giá trị đạo đức của tôn giáo thường không dừng lại trong phạm vi nghi lễ. Tinh thần từ bi, bác ái, vị tha, hành thiện, hiếu nghĩa… có thể gặp gỡ với truyền thống “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, với ý thức cộng đồng và tình cảm gắn bó quê hương của người dân Việt. Chính sự gặp gỡ này tạo nên một nền tảng xã hội để nhiều chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ tham gia việc chung của đất nước ở những thời điểm khác nhau.
Trong lịch sử các triều đại phong kiến, nhiều nhân vật Phật giáo đã được nhắc đến với tinh thần “hộ quốc, an dân”, tiêu biểu như Thiền sư Khuông Việt - vị Quốc sư đầu tiên của Việt Nam, đã có nhiều đóng góp vào việc xiển dương Phật giáo và sự ổn định, phát triển của nước Việt sau khi giành được độc lập sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc; Phật hoàng Trần Nhân Tông - vị hoàng đế anh minh, lãnh tụ thiên tài, anh hùng dân tộc, đồng thời là nhà tu hành giác ngộ đã để lại hệ thống tư tưởng đặc sắc về Phật giáo, người sáng lập nền Phật giáo Trúc Lâm và dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử…
Sang thế kỷ XX, trong các cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước, nhiều chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo đã tham gia các phong trào yêu nước, kháng chiến, hoạt động xã hội.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, hưởng ứng, thực hiện chủ trương của Đảng, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua các chương trình hành động của Việt Minh, Phật giáo Việt Nam đã thành lập các tổ chức “Tăng già cứu quốc”, “Đoàn Phật giáo cứu quốc”, “Bộ đội Tăng già”, “Hội Phật giáo cứu quốc” các cấp để quy tụ, vận động và tổ chức cho tăng ni, phật tử tham gia cách mạng, ủng hộ kháng chiến. Trong kháng chiến chống Mỹ, phong trào Phật giáo năm 1963 là cuộc đấu tranh chống chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Tấm ảnh Hòa thượng tự thiêu đã được truyền đi khắp thế giới và gây nên sự chú ý đặc biệt…

Cách mạng tháng 8/1945 thành công đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước vẫn âm ỷ cháy trong cộng đồng công giáo thành một cao trào sâu rộng. Hàng trăm nghìn đồng bào công giáo ở Vinh, Huế, Thái Bình đã xuống đường biểu tình ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Nhiều giám mục, linh mục, giáo dân đã ra gánh vác những trọng trách của chính quyền nhân dân buổi đầu trứng nước như các Giám mục Lê Hữu Từ, Hồ Ngọc Cẩn là cố vấn Chính phủ; ông Nguyễn Mạnh Hà đảm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế, ông Vũ Đình Tụng là Giám đốc Nha Y tế Bắc Bộ, Bộ trưởng Bộ thương binh, Cựu binh trong Chính phủ, đặc biệt là Linh mục Phạm Bá Trực đã được bầu làm Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I… Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, hàng trăm nghìn thanh niên công giáo đã lên đường đánh giặc.
Trong giai đoạn hiện nay, đồng bào Công giáo tiếp tục đóng góp vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031, diễn ra từ ngày 11-13/5/2026 tại Hà Nội, Hiệp sĩ Đại Thánh giá Gioan Baotixita Lê Đức Thịnh (Gioan Baotixita Lê Đức Thịnh được Đức Giáo hoàng Benedict XVI phong tước phẩm Hiệp sĩ Đại Thánh giá của Dòng Thánh Gregorio Cả vào năm 2007, đây là tước phẩm cao nhất trong hệ thống của các Dòng Hiệp sĩ Giáo hoàng, là vinh dự tối cao cho giáo dân hoặc người không Công giáo có đóng góp đặc biệt cho Giáo hội và nhân loại) là khách mời dự Đại hội.
Nhiều năm qua, Hiệp sĩ Đại Thánh giá Gioan Baotixita Lê Đức Thịnh thường xuyên tham gia và hỗ trợ chương trình thiện nguyện hướng về người nghèo, người yếu thế, đồng bào gặp thiên tai, hoạn nạn; đồng thời tích cực kết nối các hoạt động mang tinh thần đối thoại và hợp tác, sẻ chia. Chia sẻ với báo chí, ông cho biết, đường hướng của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã xác định “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” và “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào không chỉ là tình cảm tự nhiên mà còn là một đòi hỏi của Phúc âm”…
Qua những sự kiện được nhắc đến, có thể khẳng định, đây không đơn thuần chỉ là sự tham gia của tôn giáo vào công việc thế tục, mà còn phản ánh một đặc điểm đặc biệt của lịch sử Việt Nam. Đó là khi vận mệnh của quốc gia, dân tộc đặt ra những yêu cầu lớn, thì trách nhiệm với đất nước có thể trở thành điểm quy tụ vượt lên trên những khác biệt về thân phận hay đời sống tinh thần, tín ngưỡng.
Đoàn kết tôn giáo là một bộ phận của đại đoàn kết toàn dân tộc
Ngay sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, vấn đề tự do tín ngưỡng và đoàn kết giữa đồng bào có đạo, không có đạo đã được đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng chính quyền mới và củng cố sức mạnh toàn dân. Từ đó đến nay, các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến năm 2013 đã luôn thể hiện quan điểm xuyên suốt nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về công tác tín ngưỡng, tôn giáo, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo trên phạm vi cả nước.

Bước vào kỷ nguyên mới, nhận thức về vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được mở rộng và làm sâu sắc hơn. Thượng tá, ThS Trịnh Anh Tuấn, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng trong bài viết “Tư duy mới của Đảng ta về tín ngưỡng, tôn giáo trong kỷ nguyên mới” đã nhấn mạnh: “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo tại Đại hội XIV không hình thành một cách tách rời, mà là kết quả của cả một quá trình nhận thức và phát triển lý luận lâu dài, gắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam qua nhiều thời kỳ… Đại hội XIII đã đặt nền tảng khi coi trọng việc phát huy giá trị văn hóa, đạo đức và nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo, thì Đại hội XIV tiếp tục phát triển theo hướng gắn tín ngưỡng, tôn giáo với tổng thể các chính sách xã hội và phát triển con người. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”, đồng thời đặt nội dung tôn giáo trong mối quan hệ với các chính sách xã hội rộng hơn như “thực hiện tốt công tác bình đẳng giới, chăm sóc, bảo vệ người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và các chính sách dân tộc, tôn giáo”. Theo đó, tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực riêng biệt mà còn là một thành tố trong cấu trúc phát triển xã hội toàn diện”.
Những năm qua, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam tiếp tục phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp xây dựng con người, đất nước xã hội chủ nghĩa; vận động tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc”, góp phần phát huy nguồn lực tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Tháng 12/2025, nhân dịp Giáng sinh, trả lời phỏng vấn truyền thông, ông Nguyễn Văn Thanh, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng Ban Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã khẳng định: “Với chủ trương “sống tốt đời, đẹp đạo” của các tôn giáo ở Việt Nam nói chung, cùng với đường hướng hành động riêng của từng tổ chức tôn giáo gắn bó đồng hành cùng dân tộc, tuân thủ pháp luật như: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” của Công giáo; “Sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc” của đạo Tin Lành; hay “Nước vinh, đạo sáng” của đạo Cao Đài..., nhiều quý vị chức sắc, chức việc, tu sĩ, tín đồ tiêu biểu của các tôn giáo đã gương mẫu chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực vận động tín đồ tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội phát động”.
Tại chương trình gặp mặt già làng, trưởng bản, trưởng thôn, người có uy tín, chức sắc tôn giáo tiêu biểu vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực phía Bắc năm 2026 vào ngày 14/5/2026 do Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị dự và phát biểu chỉ đạo đã nhấn mạnh: Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng, đồng bào các dân tộc luôn đoàn kết, tin tưởng, đi theo Đảng; trong đó già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo chính là “hạt nhân liên kết cộng đồng”, cầu nối bền chặt giữa ý Đảng với lòng dân…
(Còn tiếp)