Tôi tự hào là người dân thành phố Cảng

Tháng Năm lịch sử, thành phố Hải Phòng đỏ rực màu cờ, màu hoa phượng. Hoà với không khí náo nức của ngày toàn thắng, gia đình tôi vui mừng đón đoàn cán bộ Quân Dân Chính Đảng trở về tiếp quản thành phố, trong đó có 3 người thân: chị Phạm Thị Hiền, công tác ở ngành Thương nghiệp và Phạm Thị Minh Nguyệt, công tác ở ngành Văn hoá-Thông tin; anh Phạm Trung Điền, công tác ở ngành Công an.

Song bên cạnh đó không tránh khỏi nỗi buồn vì anh trai tôi là Phạm Trung Tự hy sinh trên mảnh đất Hải Phòng năm 1946 ( hiện phần mộ được an táng tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố); chị gái tôi là liệt sĩ Hoàng Ngân (tức Phạm Thị Ngân), hy sinh năm 1949, tại Việt Bắc (hiện phần mộ của chị được đưa về an táng tại nghĩa trang Mai Dịch). Được về tiếp quản thành phố Hải Phòng, chúng tôi vui mừng không kể xiết.

Về tiếp quản Hải Phòng, chúng tôi được tập trung về ngành Ngân hàng làm nhiệm vụ thu đổi tiền, thu lại tiền Đông Dương của Pháp và phát hành tiền của Nhà nước ta, lúc đó nhân dân gọi là tiền Cụ Hồ. Nhân dân vui mừng khi được mời đi đổi tiền, bà con cứ cầm đồng tiền trên tay ngắm mãi vì có hình Bác Hồ. Tôi phụ trách tổ 9 người với 3 bàn thu đổi và kiêm kế toán. Mỗi bàn có 3 người gồm kế toán, kiểm ngân, kiểm soát. Từ ngã tư Mê Linh đến ngã tư Cầu Đất-Trần Phú được bố trí 3 bàn thu đổi tiền, có bảo vệ và xe chuyên chở tiền. Kết thúc đợt thu đổi tiền, chúng tôi vừa mừng vừa lo, vì hoàn thành nhiệm vụ chu đáo được nhân dân hoan nghênh, và không biết có tổn thất tiền bạc của Nhà nước, của nhân dân không (lúc đó chưa tổng kết). Bà con thu đổi tiền trung thực và thông cảm với cán bộ kháng chiến mới về, nên chúng tôi đưa thừa tiền là bà con sẵn sàng trả lại. Bà con còn đem nước uống, bánh mì kẹp thịt mời chúng tôi. Qua thời gian thu đổi tiền, cấp trên tuyên dương, khen ngợi các tổ làm nhiệm vụ này.

Năm 1955, Bác Hồ về thăm quân, dân Hải Phòng, tôi và bố tôi rất vui mừng, xúc động được tham gia đoàn đại biểu thành phố đón Bác. Khi con tàu chở Bác cập cảng, nhân dân Hải Phòng đón Bác về nghỉ tại trường học bên cạnh đền Nghè ở phố Mê Linh. Tôi cùng các cháu thiếu nhi vinh dự tặng hoa Bác Hồ. Công tác ở Hải Phòng đến năm 1975, vợ chồng tôi được điều vào Nam công tác. Chồng tôi là Phạm Văn Hiến tập kết ra Bắc cùng tham gia tiếp quản Hải Phòng, sau làm chủ nhiệm Công ty lâm sản kiêm công tác Đảng và chỉ huy tự vệ, từng tham gia chỉ huy tự vệ bắn trả máy bay Mỹ ném bom Sở Dầu, rồi về công tác ở Ban chi viện miền Nam và vào tiếp quản thành phố Đà Nẵng.

Tôi sinh ra và lớn lên ở thành phố Hải Phòng quê hương, làm liên lạc cho các đồng chí Xứ uỷ Bắc Kỳ từ năm 1943, tiếp tục tham gia cách mạng trong 9 năm kháng chiến, sau đó tiếp quản Hải Phòng. Từ cô bé giao liên trở thành cán bộ, từ nhân viên kế toán bán hàng trở thành cán bộ quản lý kinh tế một đơn vị với 500 cán bộ, công nhân viên và hơn 20 đơn vị trực thuộc, góp phần bảo vệ và phát triển vật tư, nguồn vốn của Nhà nước, tôi chứng kiến thành phố Hải Phòng qua những thời kỳ xây dựng và phát triển trong hoà bình; vừa xây dựng kinh tế-xã hội, vừa chống chiến tranh phá hoại khốc liệt do đế quốc Mỹ gây ra. Hải Phòng luôn hiên ngang, anh dũng kiên cường; là pháo đài thép, cửa ngõ giao lưu quốc tế của miền Bắc nước ta. Khi đế quốc Mỹ hùng hổ, ồ ạt dùng pháo đài bay B52 bắn phá Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh, thành phố với dã tâm huỷ diệt, quân và dân Hải Phòng dũng cảm chiến đấu, bắn hạ gục pháo đài bay B52, góp sức cùng Hà Nội làm nên chiến thắng 'Điện Biên Phủ trên không'. Đất nước thống nhất, 30 năm qua, thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Hải Phòng từng bước vượt lên chính mình, xây dựng và phát triển thành phố ngày càng đoàng hoàng, to đẹp hơn./.

Hồng Tuyến

Ban Liên lạc đồng hương Hải Phòng tại thành phố Hồ Chí Minh