Tin người, mất của

Bị cáo đã bán đất của người khác cho các bị hại, lấy một khoản tiền không nhỏ rồi “chấp nhận ngồi tù để trả nợ” vì không còn tiền.

Bị cáo đã bán đất của người khác cho các bị hại, lấy một khoản tiền không nhỏ rồi “chấp nhận ngồi tù để trả nợ” vì không còn tiền.

Người phụ nữ dáng còm cõi, mặc chiếc áo màu trắng đứng trước vành móng ngựa với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị truy tố ở khoản 4 - tài sản chiếm đoạt lên đến 1,85 tỉ đồng. Phía sau, nhiều bị hại và gia đình họ cùng người thân bị cáo ngồi gần kín phòng xử B TAND TPHCM.

“Chỉ đại miếng đất” mà bán
 
50 tuổi, học vấn 5/12, nghề nghiệp nội trợ, chồng làm bảo vệ, có hai con đã trưởng thành. Đó là lý lịch trích ngang mà bị cáo H.T.V khai trước tòa. Thật sự không có gì đặc biệt lắm ngoài số tiền và cách thức mà H.T.V đã lừa các bị hại một cách dễ dàng đến mức ngạc nhiên.
 
Theo cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, biết chị N.T.K mới bán nhà được một khoản tiền lớn, bà V. nói có một miếng đất diện tích 500m2 ở huyện Hóc Môn cần bán với giá 690 triệu đồng. Thấy rẻ, chị K. đồng ý mua và được bà V. dẫn đi xem đất.

Ảnh minh họa: Nguyễn Tài
Ảnh minh họa: Nguyễn Tài
  
Sau khi “chỉ đại vào một miếng đất” (lời bà V. khai), bà V. nói nếu muốn mua thì đưa tiền đặt cọc trước, hai ngày sau sẽ đưa giấy tờ cho chị K. xem. Nghĩ là hàng xóm láng giềng, có nhà cửa đàng hoàng, chị K. giao tiền cọc 240 triệu đồng và làm hợp đồng sang nhượng đất bằng giấy tay, trong đó có nội dung bà V. giao đất vào cuối tháng sau và sẽ nhận hết số tiền còn lại.
 
Hợp đồng đã lập, tiền đã đưa nhưng đến hạn, chị K. không thấy bà V. giao đất, hỏi thì được trả lời đất đang chuyển mục đích sử dụng nên không thể giao đúng hẹn, đồng thời bà V. yêu cầu chị K. ứng thêm tiền để lo giấy tờ cho xong.
 
Lỡ phóng lao phải theo lao, chị K. đưa bà V. tổng cộng 418 triệu đồng (kể cả tiền cọc) và lại dài cổ chờ đợi. Cuối cùng, không thể đợi thêm, chị lên địa chính xã tìm hiểu mới té ngửa, lô đất bà V. bán là của người khác.
 
Cũng với thủ đoạn như vậy, bà V. lừa lấy của chị B.T.V 700 triệu đồng, chị P.T.M 51 triệu đồng và 7 chỉ vàng 9999, “vay nhưng không trả” của chị P.T.H.H 16 triệu đồng. 
 
Bị hại khốn đốn, bị cáo chấp nhận... ngồi tù

- Lý do gì bị cáo lừa đảo của những người cùng xóm?- Vị chủ tọa hỏi.
 
- Tại túng quẫn quá. Bị cáo thiếu nợ người ta, sợ nên mới nghĩ ra chuyện đó.
 
- Không phải đất của mình mà dám bán, bị cáo mà sợ ai?
 
- Bị cáo mượn tiền góp (lãi suất 30%), không có tiền trả, chủ nợ hăm... xẻo lỗ tai nên...
 
- Bị cáo thiếu nợ của ai, bao nhiêu tiền? Bị cáo không làm ăn buôn bán, vay nợ để làm gì?...
 
Bà V. im lặng, lấy tay quệt mồ hôi trán. Câu hỏi không khó nhưng bà V. không trả lời được, vì sao? Tôi thật sự tò mò, nhất là khi chị chồng của bà V. mếu máo: “Nó vay nợ lãi rất cao nên mới lừa đảo người ta để trả nợ chứ không mua nhà đất hay vật dụng gì cho gia đình. Con nó vẫn đói, má tôi cũng không có cơm ăn. Chỉ đến khi bị bắt, cả gia đình mới biết chuyện...”.
 
Sự thật là đâu? 1,85 tỉ đồng đến hôm ra tòa chỉ còn con số 0, hỏi đến khả năng trả nợ, bà V. lắc đầu: “Tòa khoan hồng để bị cáo về sớm đi làm thuê kiếm tiền trả nợ từ từ...”. Nghe vậy, chị P.T.M ôm mặt khóc rưng rức.
 
So với chị N.T.K và B.T.V, số tiền bị chiếm đoạt của chị M. thấp nhất nhưng đó là toàn bộ gia sản của vợ chồng chị. Từ Quảng Ngãi, vợ chồng chị vào TP mưu sinh, vợ bán bún riêu, chồng làm phụ hồ, sống trong căn nhà trọ tăm tối chật chội, nhịn ăn, nhịn mặc để dành tiền mua miếng đất cất nhà đón các con vào.
 
Vậy rồi, nghe lời ngon ngọt, giả nhân giả nghĩa của bà V.: “Tôi biết gia đình chị rất khổ, tôi sẽ không để chị khổ thêm đâu. Tôi có miếng đất mới được gia đình chia, tôi sẽ để lại cho chị với giá rẻ...”, chị “như bị bùa ngải”, đưa tất cả số tiền có được cho bà V., không làm hợp đồng đặt cọc mua bán đất mà viết giấy vay mượn tiền, cũng không đi xem đất “vì tin tưởng và bận đi bán”.
 
Năm tháng qua đi, miếng đất cất nhà cũng chỉ là lời hứa mà giấy vay mượn tiền cũng bị bà V. “mượn” lại và... xé bỏ sau đó. Đã vậy, vì tin bà V., chị M. giới thiệu bà ta đến gặp chị P.T.H.H vay 16 triệu đồng để “mua máy may cho con” để rồi ngày lại ngày nhận lời trách móc nặng lời của bị hại.
 
“Bà ấy nói không để tôi khổ, bây giờ lại đẩy tôi vào đường cùng. Chồng tôi giận tôi ngu dại đã bỏ về quê rồi... Tôi chỉ cầu mong sao lấy lại được số tiền đã mất”- chị M. bật khóc.
 
Vị chủ tọa hỏi: “Lời nói gió bay vì sao các chị dễ dàng giao một khoản tiền lớn cho bị cáo, trong khi không có một cơ sở nào để tin rằng tài sản đó là có thật?”.
 
Các bị hại đều có chung câu trả lời vì tin tưởng quá, vì thiếu sót, không hiểu luật. Nhưng đằng sau “niềm tin” ấy, họ thừa nhận “vì tham miếng đất rẻ, ham tiền lãi cao” mà thiếu cảnh giác, không kiểm tra để bây giờ mất cả chì lẫn chài khi bị cáo “chấp nhận ngồi tù để trả nợ”.
 
“Của đau con xót”, các bị hại đương nhiên không chấp nhận mất tiền oan uổng thế, họ “tố” bị cáo vẫn còn đất đai của gia đình chia cho, yêu cầu kê biên phát mãi để trừ nợ nhưng sự thật thế nào thì “cũng chỉ nghe nói”.
 
Sau phiên tòa, họ phải tự truy tìm tài sản của bà V., nếu đúng là có thật, họ phải báo cho thi hành án kê biên. Quãng đường đó gian nan, mất không ít công sức mà kết quả có lẽ cũng chỉ “nói chuyện voi đẻ trứng”.
 
Theo Tố Trâm
Người Lao Động