Thuế thu nhập cá nhân- khoảng cách giữa chủ trương và thực tế
Dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) Bộ Tài chính mới công bố trở thành một vấn đề nóng, được dư luận quan tâm trong những ngày qua. Mặc dù dự kiến, tới năm 2009, luật này mới có hiệu lực thi hành, nhưng đây là vấn đề nhạy cảm, liên quan tới đời sống, thu nhập của nhiều người dân nên dư luận ngay lập tức bàn thảo.
Trước hết, dư luận quan tâm tới thuế TNCN ở 3 khía cạnh: mức thu nhập khởi điểm tính thuế, việc chiết trừ gia cảnh và việc đánh thuế với lãi suất gửi tiết kiệm. Theo dự thảo, mức khởi điểm tính thuế dự kiến là 4- 5 triệu đồng. Một quan chức của ngành Tài chính lý giải là căn cứ này dựa vào mức thu nhập bình quân của người dân tới năm 2009 là khoảng 2,5 triệu đồng/ tháng, mức chi tiêu khoảng 1, 5 triệu đồng/ tháng nên mức tính thuế khởi điểm 4- 5 triệu đồng là hợp lý. Nhưng ý kiến của đại đa số người dân cho rằng, mức thuế khởi điểm này là quá thấp ngay trong thời điểm hiện nay chứ chưa nói tới năm 2009, khi giá cả leo thang quá nhanh. Thứ hai là mức chiết trừ gia cảnh. Theo dự thảo, tỷ lệ giảm trừ đối với người phụ thuộc bị tàn tật là 50% mức khởi điểm chịu thuế, dưới 18 tuổi là 40% và với người phụ thuộc khác 30%. Như vậy, mức chiết giảm tương ứng sẽ là 2- 2,5 triệu đồng, 1,6- 2 triệu đồng, 1,2 – 1,5 triệu đồng. Cụ thể, một người có thu nhập 10 triệu đồng/ tháng, có 2 con nhỏ dưới 18 tuổi sẽ được trừ 3,2- 4 triệu đồng không phải nộp thuế, cộng với mức thuế khởi điểm 4- 5 triệu đồng, phần còn lại chịu thuế chỉ còn 1- 2,8 triệu đồng( tính ra nộp khoảng 50.000 - 180.000 đồng). So với Pháp lệnh Thuế thu nhập cao đang áp dụng hiện nay, mức nộp thuế giảm nhiều ( người có thu nhập từ 5 triệu đồng trở lên phải đóng thuế, nếu thu nhập 10 triệu đồng/ tháng thì phần phải chịu thuế là 5 triệu đồng, áp dụng biểu thuế 10% phải nộp thuế 500.000 đồng). Nhiều người cho rằng, mức chiết giảm như vậy cũng chưa hợp lý, bởi đối với một gia đình có 2 con ăn học, năm 2009 chi phí sẽ tốn kém hơn nhiều so với hiện nay. Hơn nữa, trong một gia đình, chỉ có một người ( vợ hoặc chồng) được chiết giảm. Điều này chỉ phù hợp với trường hợp cả 2 vợ chồng đều làm việc trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, còn với các trường hợp khác, cơ quan thuế sẽ rất khó kiểm soát, gây ra sự bất hợp lý trong huy động nguồn thu. Cũng có ý kiến cho rằng, Nhà nước quá “chặt chẽ” khi tính thuế thu nhập, bởi ngoài việc duy trì cuộc sống hằng ngày, người dân còn phải chi tiêu nhiều khoản khác như học tập, phát triển nghề nghiệp, giải trí, quan trọng hơn là phải tích luỹ cho mai sau, thậm chí còn phải tham gia nhiều hoạt động khác như làm từ thiện, mua bảo hiểm... Những khoản này cũng cần được tính toán để chiết giảm.
Biểu thuế luỹ tiến từng phần ( quy định trong dự thảo) áp dụng với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công gồm: bậc 1: 4 triệu đồng / tháng là 0%; bậc 2: trên 4 triệu đồng đến 6 triệu đồng/ tháng là 5%; bậc 3: trên 6 triệu đồng đến 9 triệu đồng/ tháng là 10%; bậc 4: trên 9 triệu đồng đến 14 triệu đồng/ tháng là 15%; bậc 5: trên 14 triệu đồng đến 24 triệu đồng/ tháng là 20%; bậc 6: trên 24 triệu đồng đến 44 triệu đồng/ tháng là 25%; bậc 7: trên 44 triệu đồng đến 84 triệu đồng/ tháng là 30%; bậc 8 trên 84 triệu đồng là 35%. Biểu thuế suất toàn phần ( áp dụng cho các thu nhập từ đầu tư, thu nhập chuyển nhượng vốn, bất động sản và các thu nhập khác...) gồm: lãi cho vay, lợi tức cổ phần, lợi tức từ góp vốn cho vay, lãi tiết kiệm trên 5 triệu đồng/ tháng tính mức thuế 5%; thu nhập từ chuyển nhượng vốn tính thuế 25%; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là 25%. Các thu nhập khác như thu nhập từ tiền bản quyền vượt 10 triệu đồng/ lần tính thuế 5%, trúng xổ số, khuyến mãi quá 10 triệu đồng/ giải thưởng tính thuế 10%; thu nhập từ thừa kế, quà tặng trên 10 triệu đồng/ lần tính thuế 10%...
Mục đích của việc xây dựng Luật Thuế thu nhập cá nhân là “ khoan sức dân”, khắc phục những điểm bất hợp lý của Pháp lệnh Thuế thu nhập cao hiện nay, tạo lập thói quen cho công dân về thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, từng bước xây dựng một hệ thống kiểm soát tốt thu nhập của người dân. Nhưng Luật Thuế TNCN có đáp ứng được các mục tiêu đó hay không còn phụ thuộc vào mức thu nhập bình quân của người dân, vào các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, vào khả năng cải cách của ngành Thuế để có thể tính đúng, tính đủ mọi khoản thu nhập của người dân. Trong điều kiện đa số người dân chưa biết sử dụng tài khoản cá nhân như hiện nay, ý thức tự giác nộp thuế còn hạn chế, điều này sẽ rất khó thực hiện. Vô hình chung, Nhà nước sẽ chỉ nắm được “người có tóc”, còn phần lớn người có thu nhập cao ngoài xã hội sẽ không quản lý và đưa vào thu thuế được. Vì vậy, dự thảo Luật thuế TNCN cần được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ý kiến của các chuyên gia kinh tế, các cán bộ của ngành Tài chính, Thuế, các hộ kinh doanh, kể cả người nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam để có được phương án hoàn chỉnh, đáp ứng được phần lớn tâm tư, nguyện vọng của người dân, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Có như vậy, Luật thuế TNCN mới đạt được mục tiêu ./.