Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Cơ hội để Hải Phòng trở thành trung tâm công nghiệp-dịch vụ lớn của đất nước

Như tin đã đưa, những ngày đầu tháng 5 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm và làm việc tại Hải Phòng. Trong cuộc làm việc với lãnh đạo thành phố, Thủ tướng nhấn mạnh những thuận lợi, chỉ rõ những vấn đề Hải Phòng cần quan tâm để sớm đưa thành phố trở thành trung tâm công nghiệp- dịch vụ lớn của đất nước. 

Thủ tướng đánh giá cao nỗ lực của Hải Phòng trong việc thực hiện Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị về xây dựng thành phố Hải Phòng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước. Đó là 3 năm qua và ngay năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm (2006- 2010), 4 tháng đầu năm 2007,  Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng đạt được những thành tựu quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực, tương đối toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội, nhất là xuất hiện những nhân tố mới, điều kiện mới để thành phố phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn trong những năm tới. Kinh tế thành phố tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước với tốc độ cao (năm 2006 đạt mức tăng trưởng hơn 12%), 4 tháng đầu năm 2007 triển vọng tăng hơn 11%, trong khi cả nước phấn đấu đạt mức tăng trưởng năm 2007 hơn 8,5% và trong quý 1 năm nay tăng 7,7% (mức tăng cao so với cùng kỳ 5 năm vừa qua). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực, hiệu quả theo hướng tăng công nghiệp- dịch vụ. Mở đường bay trực tiếp Hải Phòng- Ma Cao. Ngành đóng tàu phát triển lên một bước mới với thành công trong đóng tàu 53.000 tấn, xây dựng kho chứa dầu nổi trên biển với nhiều thiết bị hiện đại… Điều này đánh dấu trình độ phát triển mới về công nghiệp tàu thuỷ và thiết bị nổi của ngành công nghiệp chế tạo.

Những thành tựu trên, nhất là một số nhân tố tích cực, rất đáng trân trọng, là tín hiệu vui, nhưng so với tinh thần Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị, sự phát triển của Hải Phòng thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng, một số lĩnh vực phát triển chưa vững chắc. Thành phố cần quan tâm đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư nước ngoài, tăng thu ngân sách nội địa, bởi Hải Phòng có nhiều thuận lợi hơn những địa phương chung quanh, là cửa ngõ khu vực phía bắc, có cảng phục vụ xuất khẩu. Thu ngân sách của thành phố tăng lên 10.000 tỷ đồng là điều đáng mừng, nhưng cơ cấu thu nội địa thấp, ảnh hưởng đến tự cân đối ngân sách. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn thành phố chưa cao. Một trong những yếu tố để phát triển bền vững là môi trường, song thành phố chưa có công nghệ xử lý rác. Đây là những vấn đề Hải Phòng cần quan tâm, phấn đấu làm tốt hơn, hiệu quả và nhanh hơn.       

Thời gian tới, Đảng bộ, quân và dân thành phố cần tiếp tục quán triệt và sáng tạo trong tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội 10 của Đảng, Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị, cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội 13 Đảng bộ thành phố với mục tiêu đưa Hải Phòng phát triển nhanh, bền vững, trở thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020. Trước hết Hải Phòng phải phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 2007, đóng góp tích cực vào mức tăng trưởng của cả nước. Cần cụ thể hoá, tiêu chí hoá mục tiêu chung trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội, hạ tầng kinh tế- xã hội, môi trường... để Hải Phòng nhanh chóng và thực sự trở thành thành phố cửa ngõ, thành phố Cảng trung tâm, chủ yếu không chỉ cho Hải Phòng mà cả vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng Bắc bộ, cả vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế động lực. Hải Phòng có cơ hội phấn đấu trở thành thành phố công nghiệp, một trung tâm công nghiệp- dịch vụ của cả khu vực và cả nước,  trung tâm đô thị theo hướng văn minh. Muốn vậy, cần có quy hoạch để phát triển và thực hiện bằng nhiều giải pháp. Đó là:

- Cụ thể hoá, thể chế hoá Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội 13 Đảng bộ thành phố thành các văn bản pháp quy, hành lang pháp lý, cơ chế (không chỉ là cơ chế chung, mà là cơ chế phù hợp với từng dự án); tham mưu, đề xuất những vấn đề thuộc thẩm quyền thành phố, của Bộ. Sự nỗ lực, năng động, sáng tạo của thành phố có vai trò quyết định sự phát triển. Chương trình hành động đề ra cần thiết thực, cụ thể, khả thi; triển khai quy hoạch, cập nhật quy hoạch vì quy hoạch là công cụ quản lý. Trước đây Hải Phòng có quy hoạch rồi, nhưng bây giờ có điều kiện mới, bối cảnh mới, cần điều chỉnh để phát triển. Khả năng sớm hình thành đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng,  cầu Đình Vũ; Cát Hải, Cảng nước sâu Lạch Huyện là điều kiện thuận lợi mới, vì vậy cần điều chỉnh, thay đổi quy hoạch. Đó là chưa nói đến triển vọng làm đường tốc độ cao, đường ven biển để phát triển khu vực này... Quy hoạch bao gồm quy hoạch tổng thể, quy hoạch văn hoá- xã hội, tổng mặt bằng của thành phố, các quy hoạch hạ tầng giao thông, điện, nước, quy hoạch đô thị, ngành, sản phẩm, trong đó yếu tố môi trường cần đặt lên hàng đầu.

Hai là, cần đổi mới tư duy, suy nghĩ, huy động các nguồn vốn, nguồn lực đầu tư. Thời cơ mới, vận hội mới khi nước ta trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) chính là nguồn vốn đầu tư. Làm sao hấp thu được nguồn vốn, biến nguồn vốn thành công trình, dự án, sản phẩm, tăng trưởng. Đây vừa là thời cơ thuận lợi, vừa là thách thức đối với thành phố. Lãnh đạo thành phố suy nghĩ, tính toán, tìm cách huy động các nguồn lực trong xã hội để đầu tư cho phát triển. Thành phố có lợi thế về mặt bằng, có cảng nước sâu, đường cao tốc, sân bay, không chỉ có sân bay Cát Bi mà cả sân bay tương lai có khả năng vận chuyển 80 triệu - 100 triệu khách/ năm ở giáp Hải Phòng- Hải Dương. Đây là thời cơ để Hải Phòng huy động các nguồn lực sớm đưa Hải Phòng trở thành thành phố trung tâm công nghiệp- dịch vụ, thành phố cửa ngõ của đồng bằng Bắc Bộ và khu vực.

Ba là cần đẩy mạnh cải cách hành chính, trong đó có thủ tục hành chính. Đây cũng là biện pháp thu hút đầu tư, thu hút nguồn lực và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, phục vụ nhân dân. Gắn đẩy mạnh cải cách hành chính với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nghiêm túc xử lý trường hợp vi phạm pháp luật để củng cố lòng tin trong nhân dân, đồng thời tạo môi trường đầu tư, môi trường phát triển.

Bốn là tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng. Đây là trách nhiệm của cả Trung ương và thành phố. Cùng với ngân sách Trung ương, địa phương cần  tính toán, kêu gọi đầu tư, huy động các nguồn lực khác. Phải từ ngân sách địa phương và huy động các nguồn lực để đầu tư cho hạ tầng.

Năm là hết sức quan tâm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ khu công nghiệp và dịch vụ.

Vấn đề xã hội lớn nhất là tạo việc làm cho người dân, nhất là nông dân. Chăm lo đời sống người nông dân cần quan tâm cả về thu nhập, việc làm, đào tạo nghề, nhất là  những người nông dân ở địa bàn triển khai dự án công nghiệp.

Thuỳ Dung ghi