Thu hút nhân tài: Cần hình thành hệ sinh thái để người tài dấn thân, cống hiến
(PLVN) - Trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực toàn cầu ngày càng gay gắt, phát hiện, đào tạo và giữ chân nhân tài trở thành bài toán chiến lược của mỗi quốc gia. Theo các chuyên gia, cùng với định hướng từ Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, điều quan trọng không chỉ là chính sách thu hút mà còn là môi trường làm việc, cơ chế trọng dụng và cơ hội để người tài phát huy năng lực.
Việt Nam đang thiếu những chuyên gia đầu ngành
Ngày 8/4, tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam phối hợp với Báo Tiền Phong và các cơ sở giáo dục đại học tổ chức Hội thảo “Đào tạo, trọng dụng tài năng trong bối cảnh mới”. Sự kiện thu hút sự tham gia của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học và chuyên gia giáo dục nhằm trao đổi về các giải pháp phát hiện, bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Phát biểu khai mạc, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, đặc biệt hướng tới mức tăng trưởng hai con số trong những năm tới, việc xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ để phát hiện, đào tạo và trọng dụng nhân tài là yêu cầu cấp thiết.
Theo ông, những năm gần đây hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt trong đào tạo các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM). Quy mô tuyển sinh nhóm ngành này tăng nhanh, góp phần cung cấp nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ then chốt.
Tuy vậy, theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, các chính sách liên quan chưa được triển khai đồng bộ; khái niệm “chương trình tài năng” vẫn còn khá mới mẻ đối với nhiều cơ sở đào tạo; sự liên kết giữa đào tạo, nghiên cứu và sử dụng nhân lực chưa thực sự chặt chẽ. Ngoài ra, chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển chưa đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa nguồn nhân lực chất lượng cao. Hiện tượng “chảy máu chất xám” và lãng phí nhân tài vẫn tồn tại. Việt Nam cũng đang thiếu các nhà khoa học đầu ngành có khả năng dẫn dắt những lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ mới nổi hay các ngành năng lượng thế hệ mới.
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, một trong những hướng đi quan trọng là xây dựng hệ thống phát hiện và nuôi dưỡng nhân tài sớm, có tính liên thông. Nhân tài không xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà cần được phát hiện từ sớm và bồi dưỡng có hệ thống, từ bậc phổ thông đến đại học và sau đại học. Ông cho rằng, cần hình thành các “luồng đào tạo tinh hoa” với cơ chế tuyển chọn đặc biệt, đồng thời đổi mới mô hình đào tạo theo hướng cá thể hóa học tập, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm.
Trong phiên thảo luận, PGS.TS Nguyễn Phong Điền, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo đang đặt ra yêu cầu thay đổi toàn diện đối với giáo dục đại học, đặc biệt là đào tạo tài năng. Theo ông, Đại học Bách khoa Hà Nội đang tiếp cận bài toán này thông qua nhiều trụ cột như đổi mới tuyển sinh, cập nhật chương trình đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, TS Đỗ Đức Dũng, Giám đốc bộ phận giải pháp phần mềm của Samsung R&D Center Việt Nam cho biết, sinh viên Việt Nam hiện nay có nhiều điểm mạnh đáng ghi nhận. Theo ông, lợi thế nổi bật nhất là năng lực tự học. Khi được giao bài toán, nhiều sinh viên có thể chủ động tìm tòi, nghiên cứu và đưa ra hướng giải quyết. Tuy nhiên, để trở thành “nhân tài toàn cầu”, sinh viên Việt Nam vẫn cần nâng cao năng lực nghiên cứu chuyên sâu và trình độ học thuật cao hơn. Doanh nghiệp không chỉ cần cử nhân giỏi mà còn cần đội ngũ thạc sĩ và tiến sĩ có khả năng dẫn dắt các dự án công nghệ phức tạp.
Cần tạo ra một môi trường nơi người tài được trao cơ hội
Ở góc độ chính sách và môi trường học thuật, GS David Trần, Đại học Massachusetts, Boston, Mỹ, đồng thời Phụ trách Chương trình Blockchain tại Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán; Phó Chủ tịch Hội đồng Viện công nghệ và kinh tế số, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, sau khi sang Mỹ học tiến sĩ từ năm 1997 và có gần ba thập kỷ làm việc, khoảng 5 năm trở lại đây, ông bắt đầu trở về Việt Nam nhiều hơn để tham gia giảng dạy, kết nối học thuật và đóng góp vào các chương trình phát triển khoa học - công nghệ trong nước với mong muốn mang năng lượng mới, tư duy mới và những trải nghiệm học thuật tích lũy được ở nước ngoài trở về chia sẻ với đồng nghiệp, với người trẻ Việt Nam, đúng vào thời điểm đất nước đang bước vào giai đoạn bứt phá về khoa học công nghệ.
GS David Trần cho rằng, điều Việt Nam cần làm để thu hút và giữ chân nhân tài khoa học không chỉ là câu chuyện thu nhập mà cần tạo ra một môi trường, không gian cởi mở và được trao niềm tin, cơ hội. Chúng ta cần coi việc đầu tư cho các nhà khoa học là một trong những khoản đầu tư chiến lược cho tương lai quốc gia. Có thể không phải ai cũng đạt kỳ vọng, nhưng chỉ cần một vài người tạo ra những đóng góp đủ lớn để đưa Việt Nam ghi dấu trên bản đồ khoa học thế giới, đó đã là thành công rất đáng giá.
Cùng quan điểm này, ThS Tân Anh, Phụ trách Ban Phát triển nguồn nhân lực của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia cho rằng, để thu hút nhân tài, Việt Nam cần tạo ra một môi trường nơi người tài được trao cơ hội dẫn dắt và tham gia giải quyết các bài toán lớn của đất nước. Theo bà, không nhất thiết nhân tài phải trở về hoàn toàn mới có thể cống hiến. Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng nguồn lực trí tuệ của cộng đồng người Việt toàn cầu thông qua nhiều hình thức linh hoạt như hợp tác dự án, tư vấn chuyên môn hoặc làm việc bán thời gian.
Theo TS Trần Nam Tú, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ GD&ĐT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi cách tiếp cận đa nguồn lực. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, nhân lực chất lượng cao đã trở thành “tài nguyên chiến lược” của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, ngân sách nhà nước không thể một mình gánh vác nhiệm vụ này. Giải pháp là huy động sự tham gia của doanh nghiệp, trường đại học và các tổ chức xã hội. Sự đồng hành này không chỉ giảm áp lực tài chính mà còn giúp gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động.