Thời của họ chưa xa

 Truyện ngắn của Vũ Minh Nguyệt

 

Tôi còn nhớ, lúc ấy nắng đang đổ dài dưới chân đèo, nắng loang loang thành vệt trên những đám ngô ven đường, nhưng có một tia nắng gắt chói đã xiên thẳng vào gáy của tôi. Mọi người nói cười rôm rả, có lẽ ai cũng cảm thấy hồ hởi với chuyến đi, công việc trôi chảy lại được biết thêm nhiều điều mới lạ. Vậy mà tôi cứ thấy bồn chồn, sốt ruột, chỉ còn ba ngày nữa là kết thúc đợt công tác. Vừa về đến chỗ trọ, tôi nhận được tin cha tôi mất. Tôi khóc dụi dặm, bước lảo đảo bên cạnh anh trưởng đoàn công tác. Mới ngoài năm mươi tuổi, sao mà bố lại chết nhanh thế. Chính bố đèo xe máy đưa tôi đến nơi đoàn tập trung trước khi đi kia mà. Vậy là suốt chặng đường từ bản Cóm, Hà Giang về Hà Nội tôi cứ rấm rứt khóc. Anh em tôi về đến nhà đã gần hai giờ sáng. Bố tôi đón ngay ở ngõ.

- Bố!

Tôi ôm chầm lấy bố, ngơ ngác.

- Con gái ơi bố đây.

Đêm mùa hè oi nồng, nóng nực dưới ánh sáng lung linh của ngọn nến (Không hiểu sao đêm ấy cả khu phố nhà tôi lại mất điện). Mẹ tôi đã kể lại câu chuyện của hơn hai mươi năm trước. Chuyện không phải của riêng mẹ mà là cả một thời của họ. Bố tôi lúc ấy, nửa nằm, nửa ngồi đốt thuốc liên tục. Thi thoảng ông cầm chiếc quạt nan đập muỗi phành phạch. 

 *

Năm 18 tuổi vừa rời ghế nhà trường Hà nhập ngũ, cô là lính nuôi quân ở một đơn vị trinh sát. Ở đơn vị đại đa số là con trai nên “lính thím” lúc ấy như mỳ chính cánh. Hà là cô gái xinh xắn, da trắng, tóc dài, nói năng nhỏ nhẹ chỉ phải tội mỗi khi xấu hổ hay ai nhắc đến tên là mặt cô lại đỏ nhừ như gấc chín nên anh em trong đơn vị đặt cho cô cái biệt danh là Hà gấc để phân biệt với hai cô Hà khác. Cùng trung đội với cô có Hạnh và Thắng lớn tuổi hơn cả. Họ hơn Hà đến bảy tuổi. Thắng và Hạnh cùng sinh ra ở một vùng quê, cùng nhập ngũ một ngày và cùng ở một chỗ nên hai người thân nhau lắm. Có chuyện gì hai người cũng kể cho nhau nghe.

Thời của họ chưa xa
Minh họa: Đặng Tiến
Giọng mẹ vẫn đều đều. Thỉnh thoảng nghẹn tắc lại: Một lần đơn vị cử Hạnh và Hà xuyên rừng về trạm lĩnh gạo và thực phẩm cho tiểu đội. Họ đi từ trưa đến tối vẫn chưa đến được trạm kho, đành ăn tạm lương khô rồi mắc võng vào gốc cây rừng ngủ. Đêm, nghe tiềng lá rừng lay động, Hà tưởng thú dữ run bắn cả người, cô gọi: “Anh Hạnh. Anh ngủ chưa?” Hạnh phải ngồi dậy để Hà yên lòng. Một lúc sau, tưởng Hà ngủ say,  Hạnh vừa nằm xuống, lại thấy Hà lay lay gọi. Hạnh cáu kỉnh “Đáng lẽ cô nên ở lại hậu phương mà đi làm văn công múa hát thì hợp hơn!”.  Từ lúc ấy hai người hai võng ngồi nhìn hai phía cho đến khi trời sáng mà chẳng ai nói với ai câu nào. Hôm sau, họ đến nơi và lĩnh được đủ số gạo. Lúc về trời nhá nhem tối, họ lọt vào tầm phục kích của địch. Theo kinh nghiệm, hai người không nổ súng  mà bí mật vượt suối  chạy và chạy. Họ luồn lách dưới những tán cây rậm rịt. Trên đầu tiếng máy bay rít lên. Pháo sáng thả rực cả một khoảnh rừng. Cả không gian sôi động, hai người cứ thế cõng hai bao gạo len lỏi qua mấy cánh rừng. May thay bọn địch thấy mất mục tiêu nên không bắn nữa. Thấy im tiếng súng, Hà gọi:

- Anh Hạnh. Nghỉ đã, em mệt lắm rồi.

Hạnh quay lại, mặt đỏ gay gắt, anh nói mà như quát :

- Cô định nghỉ ở đây để chết à. Nếu bọn chúng truy đuổi tiếp liệu có chạy thoát được không?

Hà tự ái hăng máu cứ phăm phăm bước lên trước Hạnh. Đang đi chợt Hạnh gọi rất to:

- Hà đứng lại đã. Cô bị thương rồi.

Hà không thèm để ý cứ băm bổ bước đi. Đã thế cô còn quay lại bảo:

- Anh mệt rồi à? Mệt thì nghỉ vậy.

- Hà! Trong lúc này tôi là chỉ huy. Đây là mệnh lệnh. Cô dừng lại!

 Nghe đến "mệnh lệnh" Hà vừa sợ lại vừa buồn cười, cô bước chậm chậm bên anh rồi dừng hẳn lại. Nhưng ôi thôi lúc Hà đứng lại thì bao gạo chỉ còn gần nửa và gói muối, mắm khô, mỳ chính không còn nữa. Thì ra mải chạy Hà đã đánh rơi từ lúc nào. Hà oà khóc. Vừa tiếc, lại vừa nghĩ đến  mười mấy con người ăn lương khô, rau rừng trừ bữa cả tuần nay.

Lúc lội qua suối lên lại đi tiếp nên quần áo khô xít, máu loang lổ thành vệt xuống chân Hà. Hạnh tưởng Hà bị mảnh đạn cứ bắt Hà kiểm tra băng bó lại vết thương. Lúc ấy mặt Hà lại đỏ như gấc chín. Cô biết là do mang vác nặng đi lại nhiều nên “ngày của phụ nữ” đã đến sớm hơn thường lệ. Cô xấu hổ quá ngồi thụp xuống rồi chạy vào bụi cây rậm bên đường. Từ đấy Hà cứ tụt lại bắt Hạnh đi trước. Sau đợt ấy về cứ, gặp Hạnh là mặt Hà lại đỏ như gấc chín. Hà luôn tìm cách tránh mặt Hạnh. Nhưng những cơn sốt triền miên đã bắt cô nằm bệt một chỗ. Người cô gầy đét, tóc rụng trơ cả da đầu. Mỗi lần cắt cơn sốt Hà cảm thấy tủi thân, nhớ mẹ. Cô lại khóc ty tỷ. Những ngày ấy cứ rỗi rãi là Hạnh lại đến chỗ Hà, anh bón cho cô từng thìa cháo, anh thủ thỉ kể chuyện quê anh cho cô nghe, anh bảo: “Hà cho anh xin lỗi nhé.”

- Chuyện gì cơ? -  Hà hỏi lại anh.

- Hôm nọ ấy mà, anh ngờ nghệch quá.

- Ứ nhắc lại đâu. Em  cấm  anh đấy!

Cứ thế hai người yêu nhau lúc nào không biết. Một buổi chiều cuối tháng hai năm bảy lăm. Cả đơn vị gấp rút chuẩn bị cho chiến dịch, Hạnh ghé vào tai Hà  nói rằng chiến dịch đang đến gần. Chỉ ít ngày nữa chiến tranh sẽ kết thúc. Khi trở về anh sẽ đến xin phép cha mẹ đón em. “Đón về đâu cơ? ” “Về nhà anh chứ còn về đâu nữa! ”. Anh bảo: "Tối nay tổ trinh sát của anh phải đi trước, hẹn em ngày chiến thắng..." Hà cứ gục đầu vào vai anh khóc… mãi sau Hà vẫn còn tiếc không nói được với anh nhiều. Bao nhiêu lời yêu thương chưa thổ lộ được thì anh đã xa cô rồi. Cũng buổi chiều ấy dưới chân dốc “Mùa Thu” Hà đã trao cả đời con gái cho anh. Hà quàng vào cổ anh mảnh vải dù mà cô cất giữ suốt mấy năm quân ngũ. Họ chia tay nhau trong niềm hạnh phúc chứa chan. Tin tức ở khắp các chiến trường tới tấp bay về. Đơn vị của Hà đã tiến sát đến Xuân Lộc cửa thủ Sài Gòn. Không khí tưng bừng nóng bỏng và gấp gáp hơn, không nói ra nhưng trong lòng ai cũng phấp phỏng niềm hy vọng. Những ngày ấy Hà vui vẻ và khấp khởi lạ thường. Phục vụ thương binh, nấu nướng, mang vác, lúc nào Hà cũng hát cười.

Rồi trong lúc háo hức đón chờ giờ phút trọng đại nhất của đất nước, Hà nhận được tin tổ công tác của đơn vị đã trở về. Mấy người hy sinh trong đó có Hạnh của cô. Tệ hại hơn người ta không tìm được xác Hạnh. Hà đã ngất xỉu trên vai Thắng, người đồng hương mà lúc còn sống Hạnh đã coi như anh em ruột. Tỉnh dậy Hà nức nở nói với Thắng, cô đang mang giọt máu của Hạnh trong người… Thắng bảo: Trong một đêm ở cứ Hạnh đã kể hết với anh. Tội nghiệp quá, Hạnh mà biết được tin này chắc nó vui sướng lắm.  Hà lại khóc ngất, Thắng cũng khóc. Họ cứ ngồi với nhau như thế mà chẳng biết làm gì…

 Hơn hai mươi năm sau mà Hà vẫn còn nghe văng vẳng bên tai giọng nói quả quyết của Thắng ngày ấy “Còn nhiều việc phải làm lắm. Bình tĩnh lại đi. Mai em đi với anh...”  Muốn giữ lại giọt máu của người đồng hương và cũng đảm bảo trọn vẹn danh dự cho Hà, người lính ấy đã đưa cô lên báo cáo tổ chức và đám cưới của họ được tổ chức sau đấy mấy ngày trong nỗi tái tê thầm lặng của cả hai người.

Những giọt mưa đầu mùa lộp bộp rơi trên mái tôn. Đêm sẫm lại. Bố đứng dậy đi đi lại lại trong nhà, dáng cao gầy in thành bóng trên tường chập choạng. Kể đến đây mẹ nức lên, tôi đã hiểu ra tất cả. Giọng mẹ nghẹn ngào như cố nén, lại như muốn bung ra... Rồi một buổi chiều cách đây hai năm huyện hội phụ nữ tổ chức thăm trạm điều dưỡng thương binh. Mẹ  đã gần như ngất xỉu khi nhận ra bác Hạnh, người thương binh bị liệt nửa người, cụt một cánh tay nằm ở phòng đặc biệt. Lúc ấy mẹ không nói được gì, chỉ đứng im nhìn bác Hạnh! Bác cứ trân trân nhìn mẹ rồi hai hàng nước mắt ứa ra chảy tràn qua gò má xuống cổ. Bác yếu quá rồi, mọi ăn uống sinh hoạt đều  phải nhờ vào người phục vụ. Cô y tá sau khi bón từng thìa cháo cho bác đã kể lại  với mẹ: “Tội lắm chị ạ, anh ấy chuyển về đây lâu rồi, anh ấy điếc hẳn chẳng nghe thấy gì đâu. Trong hồ sơ mục quê quán ghi: không rõ ở đâu, nên chẳng báo được về cho người thân, không biết có vợ con gì chưa, thỉnh thoảng lên cơn lại hét ầm lên “Hà ! Hà ơi” chẳng hiểu Hà là vợ hay là con”.

*

Từ đấy cứ chủ nhật cả bố mẹ tôi lại lên trại thăm bác Hạnh. Năm ngoái bố cứ bắt bằng được tôi lên với bác trước khi đi nhận công tác. Hôm ấy không biết bố viết gì và diễn đạt thế nào chỉ thấy bác Hạnh thều thào: “Mọi... việc ... cứ để như cũ sẽ tốt hơ...ơn...”

Trời chưa sáng hẳn, cơn mưa ngớt từ lúc nào, tôi chạy lao ra đường. Ngày đầu tiên tôi được nhận cha và cũng là ngày cuối cùng tôi được nhìn mặt cha.

Ngồi bên linh cữu cha, người tôi như mê đi. Tôi  thấy mình bay lên bồng bềnh, không phương hướng. Tôi không khóc được mà hai hàng nước mắt cứ lăn dài xuống gò má. Tôi thương mẹ, thương bố Thắng, xót xa cho cha, chỉ đến khi ai đó đặt lên đầu tôi vành khăn trắng, tôi mới giật mình như bừng tỉnh. Trong tôi oà lên tiếng gọi: Cha ơi!

Tất cả đã là quá muộn.