Thơ mộng Tây Hồ

Tôi đến Hàng Châu (tỉnh Chiết Giang,Trung Quốc) vào một buổi chiều thu. Đường phố Hàng Châu sạch, đẹp và thơ mộng với những khu vườn, những con đường yên ả dưới bóng cây ngô đồng. Tôi nao nao nhớ tới câu thơ đẹp của Bích Khê: “Cây ngô đồng, cây ngô đồng.Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông…”

“Trên có Thiên Đàng, dưới có Tô, Hàng”

 

Tây Hồ gắn liền với huyền thoại về nàng Tây Thi, một trong "tứ đại mỹ nhân" của Trung Quốc. Quả thật, đến Hàng Châu, vừa ngắm Tây Hồ đã thấy mê mẩn tâm hồn, như mê một người đẹp. 

 

Thơ mộng Tây Hồ

Tháp Lôi Phong trong sương mờ

 

Con thuyền đưa chúng tôi dạo quanh Tây Hồ, lúc ấy đã khoảng hơn 5 giờ chiều, mặt trời dần xuống bóng. Thuyền gạt những nhành liễu rủ xuống ven bờ hồ, nhẹ nhàng tiến ra xa. Mặt hồ xanh mát mắt, trải rộng ngút ngàn. Xa xa, tháp Lôi Phong gắn với truyền thuyết Bạch Xà Nương mờ ảo trong làn sương khói. Gió hồ mơn man, khắp thuyền phảng phất mùi trà Long Tỉnh-loại trà nổi tiếng của Hàng Châu, mà cô gái  lái thuyền đang pha theo cách uống đặc trưng của trà Long Tỉnh. Cô Lâm Trang, hướng dẫn viên của Công ty du lịch đứng dựa mạn thuyền, say sưa nói về Hàng Châu, về Tây Hồ, cũng là quê hương của cô. “Trên có Thiên Đàng, dưới có Tô, Hàng” (Tô Châu và Hàng Châu), người ta đã truyền tụng như vậy từ xưa. Tây Hồ rộng gần 6 km2, ba phía là núi bao bọc, từng ghi dấu ấn của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha…Nhiều nhà thơ lớn của Việt Nam như Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng từng đặt chân đến đây chèo thuyền, ngắm trăng, mặc cho thi hứng tung cả đất trời.

“Rất tiếc là du khách không có thời gian để du thuyền trên Tây Hồ vào đêm trăng rằm. Du khách sẽ được ngắm Tam Đàn Ấn nguyệt giữa Tây Hồ, nơi có ba chiếc đàn bằng đá nhô lên khỏi mặt nước. Mỗi tháp có 5 lỗ trong, ban đêm đèn thắp trong tháp, ánh sáng in bóng qua các lỗ tròn hắt xuống mặt hồ, cùng với ánh sáng trên các ngọn tháp trên núi hắt xuống mặt hồ, tất cả có 35 ánh trăng rọi xuống Tây Hồ. Nhưng du khách sẽ có được 36 ánh trăng, ánh trăng đó ở đâu, thì tự du khách hiểu”-cách ví von của cô gái Hàng Châu cũng thật đặc biệt và tế nhị.

 

Đến Tây Hồ, ai cũng mong có được diễm phúc thưởng lãm Tây Hồ thập cảnh (mười cảnh đẹp của Tây Hồ). Mỗi phong cảnh đã được Hoàng đế Càn Long nhà Thanh viết trên bia, trong đó có: Tô đê xuân hiểu (buổi sáng mùa xuân trên Tô đê); Liễu lãng văn oanh (chim oanh hót trong rặng liễu); Tam đàn Ấn nguyệt (ba đầm nước phản chiếu ánh trăng); Lôi phong tịch chiếu (Tháp Lôi Phong trong ánh sáng buổi chiều); Bình Hồ thu nguyệt (trăng mùa thu trên mặt hồ yên bình…). Người ta bảo vệ Tây Hồ như một di sản văn hoá: không nuôi thả cá, hồ không có rác, xe cơ giới không đi lại trên đê, thuyền chạy bằng ắc quy, nước hồ mỗi năm thay một lần bằng kỹ thuật của người Trung Quốc… Vì vậy mà “Tây Hồ thập cảnh” vẫn được gìn giữ, bảo vệ đến tận bây giờ.

 

Thuyền ra giữa hồ, ngắm Tô đê, Bạch đê đẹp như những giải lụa mềm mại nổi giữa hồ, tuyệt đẹp với những rặng liễu. Hai con đê này lấy theo tên Tô Đông Pha và Bạch Cư Dị, hai nhà thơ nổi tiếng đời Đường từng làm quan ở đây và cho đắp hai con đê này. Cô Lâm Trang lần lượt chỉ tay giới thiệu qua làn sương mỏng đang lan khắp mặt hồ: xa xa là Tô đê, trên đê có 6 cây cầu vòm, trải dài tạo nên cảnh đẹp nổi tiếng: “Tô đê xuân hiểu”. Có cây cầu Đông Phố, nơi ngắm cảnh mặt trời mọc đẹp nhất và cầu Khoá Hồng, nơi có thể ngắm được cầu vồng trên Tây Hồ khi có mưa. Kia là Đoản Kiều, còn gọi là cầu gãy, nơi chia tay ly biệt giữa Bạch Xà Nương và Từ Tiên (một trong những câu chuyện tình đẹp ở Tây Hồ). Cuộc chia tay không gặp lại, nên người ta gọi là Đoản Kiều. Kia là Trường Kiều, cây cầu ngắn nhất trong 6 cây cầu nhưng lại là nơi chứng kiến giây phút biệt ly của Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài. Cầu ngắn mà tình dài, chia tay mãi không dứt, người ta gọi đó là Trường Kiều.

 

“Thiên đường nhất cảnh, nhân gian nhất mộng”

 

“Nói đến Hàng Châu, phải nói đến Tây Hồ. Đến Tây Hồ, phải xem “Ấn tượng Tây Hồ”-những lời giới thiệu về vở kịch biểu diễn trên sân khấu nước ở Tây Hồ thật hấp dẫn. Thăm Tây Hồ lần này, chúng tôi có thêm may mắn có dịp  xem biểu diễn vở kịch “Thiên đường nhất cảnh, nhân gian nhất mộng”, diễn chuyện tình diễm lệ giữa Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài, xưa nay được mệnh danh là “Chuyện tình Rô mê ô và Ju-li-et phương Đông”. Suất diễn mỗi tuần hai lần, vé không rẻ, gần 200 nghìn đồng Việt Nam mà người xem không còn một chỗ trống.

 

Thơ mộng Tây Hồ

Trường Kiều nơi gặp gỡ Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài

 

Tây Hồ lúc này chìm trong màn đêm, trên bầu trời ánh trăng đầu tuần chỉ mới thấp thoáng, mờ ảo trong làn mây. Bỗng nhiên một bản nhạc tình đầy bi thương tràn ngập không gian. Cảnh tượng thật kỳ thú dần hiển hiện từ một sân khấu vĩ đại dựng trên mặt nước Tây Hồ, với sự tham gia của vài trăm diễn viên làm hậu cảnh: Nào gặp gỡ, chia  tay, ly biệt, sóng gió đoạn trường…Tất cả đều được diễn viên thể hiện với sự hỗ trợ của các đạo cụ hiện đại.

 

Câu chuyện tình Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài không lạ với nhiều người dân Việt Nam. Năm 2006, người Trung Quốc từng có cuộc vận động UNESCO công nhận chuyện tình diễm lệ này là di sản văn hoá thế giới. Còn giờ đây, câu chuyện tình ấy đã được sân khấu hoá dưới bàn tay của những đạo diễn lừng danh như Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca…với sự phối hợp tuyệt vời của âm thanh, ánh sáng, của công nghệ sân khấu hiện đại và đặc biệt, nó được thể hiện ngay trên mặt nước Tây Hồ, trong không gian đẹp và những cảm giác đầy lãng mạn. Vở kịch không một lời thoại, nhưng người xem thì hiểu tất cả, trong lòng nao nao, xúc động, đầy thương cảm. Mỗi người đều có cảm nhận riêng. Còn tôi, tự nhiên chợt nhớ đến Hồ Tây (Hà Nội), trong đầu vẩn vơ câu hỏi: Việt Nam mình nhiều cảnh đẹp, không thiếu những thiên tình diễm lệ. Tại sao người Trung Quốc giữ gìn thiên nhiên, khai thác văn hoá truyền thống phục vụ du lịch tốt đến thế nhỉ ?

 

Việt Anh