Thi hành án : nan giải trước thách thức của...đương sự
Chấp hành viên vẫn phải bó tay trước những thách thức của thực tiễn và ...đương sự
Dù quy trình thi hành án đã được quy định khá cụ thể và chặt chẽ trong Luật Thi hành án dân sự (THADS), nhưng nhiều khi chấp hành viên (CHV) đành chịu “bó tay” khi “đương đầu” với những “thách thức” của thực tiễn và đương sự...
Khó từ tống đạt giấy tờ
Vẫn tưởng tống đạt giấy tờ là việc “dễ như chơi” vì đã được qui định rõ ràng từ điều 38 đến điều 43 Luật THADS và điều 7 Nghị định 58/2009/NĐ-CP. Nhưng theo ông Nguyễn Song Hà (Chi cục trưởng Chi cục THADS quận Thanh Xuân – Hà Nội), công tác tống đạt giấy tờ trong THA “vướng rất nhiều vì thế nào là tống đạt hợp lý vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau”.
Không những thế, thực tế phức tạp của công tác THA đã khiến nhiều CHV rơi vào tình trạng “dở khóc dở cười” khi không thể xác định được địa chỉ của người phải THA hoặc xác định được địa chỉ thì không tìm được người phải THA. Thậm chí, nhiều trường hợp CHV đã trực tiếp tống đạt giấy tờ nhưng đương sự phủ nhận để khiếu nại, khiếu kiện CHV nhằm... không cho THA.
![]() |
| Một cuộc cưỡng chế thi hành án dân sự |
Thực tế hiện nay, nhiều đương sự không chỉ cư trú ở Việt Nam mà còn cư trú tại nhiều quốc gia khác nhau nên việc tống đạt giấy tờ THA phải tuân thủ các qui định liên quan đến thủ tục tố tụng dân sự, chứ không có qui định riêng về tống đạt giấy tờ THA đối với đương sự ở nước ngoài.
Qui định này đẩy cơ quan THADS vào “thế bí” vì liên quan đến chi phí và kéo dài thời gian tổ chức THA.
Không kể việc tống đạt giấy tờ thông báo về việc kê biên tài sản cũng như “đánh động” để người phải THA mang tài sản đi... “tặng, cho” người thân, nên ông Nguyễn Văn Lạng (Chi cục THADS quận Ba Đình – Hà Nội) cho rằng: “nếu làm trái luật không thông báo trước còn THA được, chứ sau khi thông báo, chẳng thể nào làm được gì!”.
Tuyên án để... chơi
Thực tế đó được ông Nguyễn Văn Lạng phản ánh qua thực tế một số công ty TNHH – đối tượng phải THA – “chỉ cần thay đổi tên” là có thể “trêu ngươi” cơ quan THA.
Đó là hậu quả của những qui định pháp luật không “tương hỗ” với nhau, không chỉ khiến những phán quyết của Tòa án “thiếu đầu ra”, mà còn “vô hiệu hóa” cơ quan THA vì không xác định được đối tượng phải THA.
Vốn không mấy khi được đương sự (người phải THA) “ưu ái”, các CHV khi thi hành nhiệm vụ còn gặp phải không ít cản trở. Bà Nguyễn Bích Hạnh (Cục THADS TP.Hà Nội) nhận thấy, trong quá trình THA, CHV luôn phải chịu áp lực từ nhiều phía, nhất là đối với những tài sản phải THA là bất động sản (tài sản có giá trị lớn).
Rất nhiều trường hợp cơ quan THA chuẩn bị cưỡng chế mới nhận được yêu cầu hoãn hoặc kháng nghị của TANDTC, VKSNDTC hay do người phải THA khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết yêu cầu dừng THA. Việc cưỡng chế đương nhiên phải dừng, tốn kém về kinh phí không nhỏ, nhưng không bằng việc hình thành nên “thái độ coi thường pháp luật” từ phía người phải THA.
Kê biên không khéo phải bồi thường
Pháp luật về THADS qui định rất rõ, nếu tài sản bị kê biên và bán đấu giá mà bị kiến nghị thì CHV phải bồi thường. Qui định này nhằm nâng cao trách nhiệm của CHV trong việc kê biên tài sản của người phải THA, nhưng cũng đã “nhẹ nhàng” đẩy CHV vào tâm lý, “ngại kê biên, tăng cường hòa giải” như nhận định của ông Nguyễn Song Hà.
Đã thế, có những trường hợp cơ quan THA không thể kê biên theo quyết định của cơ quan điều tra khi đối tượng kê biên là một căn nhà mua nhiều lần chưa trả hết tiền hay đất canh tác bị bỏ hoang hóa nhiều năm...
Ông Phạm Quang Dũng (Cục THADS TP.HN) khẳng định, đối với những trường hợp bảo lãnh thương mại rất khó áp dụng biện pháp kê biên. Theo cơ chế luôn bảo vệ khách hàng, ngân hàng sẽ cho rằng, tài sản đã được thế chấp nợ vay, khách hàng không vi phạm hợp đồng nên không tích cực hợp tác với cơ quan THA.
Kê biên cũng quyết định đến việc định giá tài sản THA do “nếu không kê biên được thì không thể định giá tài sản”.
Qua nghiên cứu thực tiễn, bà Lê Thị Hoàng Thanh (Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp) nhận thấy, tuy luật cho phép CHV tự định giá bất động sản trong trường hợp “không ký được hợp đồng dịch vụ thẩm định giá với tổ chức thẩm định giá”, song lại chưa có hướng dẫn cụ thể để xem xét và chứng minh các trường hợp này.
Thậm chí, có hiện tượng không ký được hợp đồng định giá xuất phát từ sự “không thống nhất giá giữa CHV và đương sự”.
Từ thực tiễn thi hành Luật THADS 9 tháng qua mới thấm thía lưu ý của Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường rằng, “Luật THADS chưa phải “cây gậy thần” để giải quyết hết những vướng mắc trong công tác THADS”. Dù có luật thì từ bản án đến thực tiễn hóa ra là một chặng đường khá xa.
Muốn rút ngắn thì phải cần đến những “công cụ pháp lý” cụ thể, minh bạch và cả nhận thức đúng đắn của xã hội về câu chuyện THADS.
Huy Anh
