'Thế yếu' của người sáng tạo: Khi tác giả phải đi chứng minh tác phẩm của chính mình
Quyền tác giả phát sinh từ khi tác phẩm được sáng tạo, không phụ thuộc vào việc người sáng tạo là một nhạc sĩ độc lập hay một doanh nghiệp sở hữu hàng nghìn bản ghi. Nhưng trên môi trường số, khả năng thực thi quyền ấy lại phụ thuộc rất nhiều vào việc ai được tiếp cận những công cụ kỹ thuật mạnh nhất của nền tảng.
Khi tác giả phải đi chứng minh quyền của chính mình
Năm 2021, nhạc sĩ Giáng Son đưa bản ghi Giấc mơ trưa do ca sĩ Khánh Linh thể hiện lên kênh YouTube cá nhân và nhận thông báo bản quyền từ hệ thống Content ID liên quan đến BH Media. Một sự việc tưởng chỉ cần vài thao tác kỹ thuật để làm rõ cuối cùng trở thành hành trình pháp lý kéo dài gần 5 năm. Ngày 26/6/2026, TAND TP Hà Nội tuyên bản án sơ thẩm, xác định Giáng Son là chủ sở hữu duy nhất bản ghi âm gốc do Khánh Linh thể hiện; đồng thời buộc BH Media chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ các xác nhận chủ sở hữu bản quyền không đúng và xin lỗi công khai.
Điều đáng nhớ không chỉ là kết quả vụ án, mà là quãng thời gian người sáng tạo phải đi qua để bảo vệ một bản ghi mình đã đầu tư thực hiện. Giáng Son từng nói có những lúc chị “kiệt sức”; thời gian dành cho thủ tục và tranh chấp lẽ ra có thể dành cho âm nhạc. Nỗi đau ở đây vì thế không chỉ là một lần bị nhận diện sai. Nó là sự bất cân xứng giữa người có quyền về mặt pháp lý và người có năng lực thực thi quyền bằng công nghệ.
Chủ thể quyền không chỉ muốn nhận một con số cuối quý; họ muốn biết tác phẩm đang được sử dụng ở đâu, ai đang quản lý và dòng tiền được phân chia ra sao
Câu chuyện của gia đình cố nhạc sĩ An Thuyên có bản chất khác vụ Giáng Son, nhưng lại chạm vào một vấn đề tương tự: tác phẩm là của mình, song việc nó đang được sử dụng ở đâu, bởi ai và theo cách nào lại không phải lúc nào cũng nằm trong tầm mắt của người sở hữu quyền.
Năm 2018, gia đình cố nhạc sĩ An Thuyên quyết định rút các tác phẩm khỏi Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) để tự quản lý và khai thác. Con gái ông, ca sĩ Bông Mai, cho biết điều gia đình mong muốn là biết “ai đang sử dụng tác phẩm” để quản lý minh bạch hơn. Ở chiều ngược lại, VCPMC từng giải thích dữ liệu thống kê được lưu trữ và có thể cung cấp khi tác giả hoặc người được ủy quyền yêu cầu; việc đo đếm khi đó cũng có những giới hạn nhất định về công nghệ.
Nhu cầu ấy không chỉ xuất hiện trong một gia đình. Nhạc sĩ Nguyễn Nhất Huy từng kể nhiều ca khúc của anh được khai thác rộng thời nhạc chuông, nhạc chờ nhưng tác giả gần như không biết doanh thu đi đâu. Nguyễn Văn Chung cũng kể lại cú sốc khi biết một bài hit tạo ra khoảng 1,7 tỷ đồng doanh thu từ nhà mạng trong khi khoản anh nhận từ ê-kíp ca sĩ sau khi chất vấn là 30 triệu đồng. Từ thời nhạc chuông đến YouTube, công nghệ đã thay đổi rất nhiều. Nhưng câu hỏi của người sáng tạo vẫn gần như vậy: Tác phẩm của tôi đang ở đâu? Ai đang kiếm tiền từ nó? Và tại sao tôi thường là người biết điều đó sau cùng?
Quyền trên giấy và quyền lực trên nền tảng
Pháp luật đặt người sáng tạo ở một vị trí khá rõ. Quyền tác giả phát sinh từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định; việc tác phẩm đã đăng ký hay chưa không phải điều kiện để quyền ấy xuất hiện. Nói cách khác, về nguyên tắc, người sáng tạo không phải chờ một nền tảng hay một doanh nghiệp nào “cấp” quyền cho tác phẩm của mình.
Nhưng bước từ “tôi có quyền” sang “tôi có khả năng bảo vệ quyền ấy ngay khi tác phẩm bị sử dụng” lại là một câu chuyện khác.
Content ID cho thấy khoảng cách đó khá rõ. Đây là hệ thống của YouTube tự động so sánh nội dung người dùng tải lên với kho dữ liệu tham chiếu do chủ thể quyền cung cấp. Khi phát hiện trùng khớp, bên quản lý quyền có thể, tùy trường hợp, chặn video, theo dõi lượt xem hoặc kiếm tiền từ video. YouTube không nói Content ID “chỉ dành cho doanh nghiệp lớn”, nhưng hệ thống này được thiết kế cho những chủ thể có nhu cầu quản lý bản quyền phức tạp, sở hữu hoặc kiểm soát độc quyền một lượng đáng kể nội dung gốc thường xuyên bị tải lại.
Điều đó tạo ra một khoảng cách rất thực tế. Một nhạc sĩ độc lập sở hữu vài chục ca khúc vẫn có đầy đủ quyền đối với chúng. Nhưng một doanh nghiệp quản lý hàng nghìn bản ghi thường có lợi thế hơn về kho dữ liệu, nhân sự pháp lý, lịch sử xử lý khiếu nại, hệ thống đối soát và khả năng vận hành công cụ tự động ở quy mô lớn. Khi hai bên cùng bước vào một môi trường do thuật toán vận hành, quyền tác giả có thể bình đẳng trên giấy, nhưng năng lực thực thi quyền lại không bình đẳng trên nền tảng.
Chiếc khiên bản quyền cần đến được tay người sáng tạo
Vụ Giấc mơ trưa cuối cùng đã có một phán quyết sơ thẩm có lợi cho Giáng Son và Nguyễn Vĩnh Tiến. Nhưng đối với nữ nhạc sĩ, cái giá không chỉ tính bằng tiền. Đó là gần 5 năm thủ tục và tranh tụng để bảo vệ một bản ghi mà chị cho biết mình đã tự bỏ tiền sản xuất từ đầu.
Câu chuyện của gia đình An Thuyên lại cho thấy một nhu cầu khác: người nắm quyền muốn biết tác phẩm của mình được sử dụng ở đâu, ai đang quản lý và dòng tiền được phân chia như thế nào, thay vì chỉ đứng cuối chuỗi nhận về một con số. Câu chuyện của Nguyễn Nhất Huy hay Nguyễn Văn Chung cho thấy sự mù mờ ấy đã tồn tại từ trước khi Content ID trở thành một phần quen thuộc của ngành nhạc số.
Ở góc nhìn của doanh nghiệp công nghệ, ông Bùi Minh Tuấn, Chủ tịch DipNET, nhận định: “Công nghệ lẽ ra phải làm bài toán này dễ hơn. Một tác phẩm số có thể được nhận diện, theo dõi, đối soát và thống kê ở quy mô mà thời băng đĩa không thể có. Nhưng chính khả năng ấy cũng tạo ra một loại quyền lực mới: quyền lực của người có dữ liệu trước, có công cụ trước và có khả năng khiến hệ thống phản ứng trước.”
Vì thế, cuộc tranh luận về bản quyền số không nên dừng ở việc nghệ sĩ phải “biết luật hơn” hay “cẩn thận khi ký hợp đồng hơn”. Điều đó cần thiết, nhưng chưa đủ.
Khi pháp luật thừa nhận quyền của người sáng tạo ngay từ thời điểm tác phẩm hình thành, môi trường số cũng cần tiến tới một nguyên tắc tương xứng: quyền được phát hiện việc sử dụng tác phẩm, được biết ai đang nhận quyền trên tác phẩm và được phản hồi hiệu quả khi có sai sót không nên là đặc quyền chỉ dễ dàng có được khi người sáng tạo đủ lớn để sở hữu cả một bộ máy quản trị bản quyền.
Người viết một ca khúc không nhất thiết phải trở thành chuyên gia Content ID. Một họa sĩ không nên cần cả đội ngũ pháp lý chỉ để theo dấu bức tranh của mình trên mạng. Và một nghệ sĩ độc lập không nên buộc phải đánh đổi quá nhiều quyền kiểm soát chỉ để có một bên đủ mạnh đứng ra bảo vệ mình. Nếu quyền tác giả được sinh ra cùng tác phẩm, thì khả năng được bảo vệ một cách công bằng cũng cần bắt đầu từ chính người tạo ra tác phẩm ấy. Một hệ thống bản quyền thực sự tiến bộ không phải là nơi người có công cụ mạnh hơn được tin trước. Mà là nơi người sáng tạo không phải mất 5 năm để chứng minh rằng tác phẩm của mình.