Thành phố Hải Phòng thành lập năm 1874 hay 1888 ?

           LTS:  Nói đến Hải Phong, nhiều người  cho rằng đây là thành phố được thành lập từ năm 1888.. Nhưng mới đây, Tiến sĩ  Lã Trọng Long, Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật thành phố có bài viết đưa ra những căn cứ khoa học  chứng minh thành phố Hải Phòng được thành lập cùng với sự ra đời của Cảng Hải Phòng năm 1874..

           Với hy vọng một ngày gần đây Hải Phòng sẽ có cuộc hội thảo khoa học cấp thành phốvà quốc gia  phân tích và xác định năm thành lập thành phố Hải Phòng để tiến tới có lễ kỷ niệm ngày thành lập chính thức, Báo Hải Phòng cuối tuần trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của Tiến sĩ  Lã Trọng Long. Những thông tin từ bài viết này sẽ góp phần gợi mở nhiều ý kiến góp bàn khác chung quanh vấn đề  khẳng định năm thành lập thành phố Hải Phòng...

 

     Kỳ 1. Cần hiểu đúng về  sắc lệnh 19-7-1888.

 

 Cũng như cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa địa danh Hải Phòng( do UBND thành phố Hải Phòng và Đại học Quốc gia Hà Nội chỉ đạo biên soạn.), cuốn "Việt Nam - Những thay đổi địa danh, địa giới hành chính từ 1945-2002" và công trình nghiên cứu lịch sử Hải Phòng đều  khẳng định giống nhau là ngày 19 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập thành phố Hải Phòng, xếp ngang hàng với 2 thành phố Hà Nội và Sài Gòn. Và  đó cũng là lý do để Hội đồng chỉ đạo biên soạn Bộ Lịch sử Hải Phòng lấy năm 1888 làm mốc bắt đầu giai đoạn thuộc Pháp và chống Pháp.  Tuy nhiên, phần phụ lục tập 3 của bộ sách này nêu rõ:

1. Sắc lệnh ngày 19-7-1888 là Sắc lệnh thành lập các Hội đồng thành phố Hà Nội và Hải Phòng, chứ không phải là thành lập các thành phố ấy.

2. Trước đó hơn 2 năm, cũng đã có Nghị định thành lập bộ máy thực dân Pháp ở Việt Nam với Hội đồng tư vấn của các thành phố Hà Nội, Hải Phòng.

3- Sắc lệnh ngày 19-7-1888 không phải do Tổng thống Pháp ký, mà là do quyền Toàn quyền Đông Dương - Richand ký.

4. Ngay trong Sắc lệnh này cũng chẳng có lời nào nói Hải Phòng ngang với Hà Nội và Sài Gòn. Ngược lại, chỉ thấy Hải Phòng kém hơn vì Hội đồng Hà Nội có 16 cố vấn, còn Hải Phòng có 14. Riêng Sắc lệnh thành lập tổ chức cấp thành phố của thành phố Sài Gòn ngày 8 tháng 1 năm 1877 mới là do Tổng thống Pháp - Mac Mahon ký.

 Trước khi ra các quyết định thành lập Hội đồng thành phố Hà Nội, thành Sài Gòn và Đà Nẵng, thực dân Pháp không có một  văn bản nào là Quyết định thành lập các thành phố này.

           . Hiệp ước Harmand năm Quý mùi 1883 và quyết định thành lập thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là cấp tỉnh thành phố từ sau Hiệp ước Harmand năm Quý Mùi 1883.

Giai đoạn đầu, địa điểm thành phố Hải Phòng được gọi là Ninh Hải. Đến những năm 80 của thế kỷ 19 được gọi là Hải Phòng. Từ Hiệp ước Harmand 1883, Hải Phòng được người Pháp coi là địa phương cấp tỉnh (Province), không còn lệ thuộc vào Hải Dương nữa như đã ghi tại điều 12 của Hiệp ước này: "ở Bắc Kỳ tại Hà Nội, Hải Phòng đặt một viên công sứ người Pháp đóng ở tỉnh lỵ"

Như vậy, từ Hoà ước Philastre ( ký ngày 15-3-1874) đến Hiệp ước Harmand (25-8-1883), Ninh Hải (thuộc Hải Dương) đã trở thành tỉnh Hải Phòng.

Ngay sau khi ký hiệp ước Harmand 25-8-1883, cũng năm ấy, đại diện   ... ở Hải Phòng được nâng cấp từ cấp lãnh sự (consul) (lãnh sự được Pháp gửi đến cảng Ninh Hải theo Hoà ước Philastre ) lên ngay cấp công sứ. Từ năm 1887, viên công sứ này kiêm luôn chức Đốc lý (Resident - Mairie), phù hợp  với việc lập ra Uỷ ban tư vấn thành phố Hải Phòng tháng 10-1886.

Từ 1883 bắt đầu đặt các Sở dây thép (từ 1880 có đường điện báo từ Hà Nội đến Hải Dương, đến Ninh Hải (tức Hải Phòng) ra Đồ Sơn, lần lượt có các cơ quan Phòng Thương mại từ 1884, cảnh sát, thuế quan thành lập trước, báo chí là tờ Courrier de Hải Phòng từ 1886,… và năm 1887 Toà Đốc lý (thị trưởng) đã được xây dựng hoàn thiện nằm ở vị trí toà nhà Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố đang làm việc hiện nay.

Tóm lại, chính quyền thực dân ở Việt Nam đã xác định Hải Phòng là cấp tỉnh, thành phố từ sau Hiệp ước Harmand năm Quý Mùi 1883.

Theo G.Raffi- Tiến sĩ tại Trường Đại học Provence-aix Marseille 1994, căn cứ vào Hiệp ước Harmand thì tỉnh Hải Phòng là đơn vị lãnh thổ cấp tỉnh bé nhất Bắc Kỳ đã được thành lập với địa giới xác định rõ: "Đông bắc đến Cửa Cấm và Vàng Châu, tây bắc đến sông Lạch Tray, tây nam đến cửa Văn úc và phía đông giáp biển".

 Như vậy, cơ sở pháp lý được công nhận của cả triều đình Việt Nam và chính quyền thực dân Pháp về việc cho thành lập thành phố Hải Phòng chính là Hiệp ước Harmand (1883).

 Các sắc lệnh của Toàn quyền Richaud (17-9-1888), đạo dụ giao đất các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng 3-10-1888của Nam Triều cũng là căn cứ vào Hiệp ước Harmand (1883) và Patennote (1884) để thực hiện mà thôi. 

Cảng Hải Phòng ra đời cùng ngày thành lập thành phố Hải Phòng?

  Một văn bản mang tính pháp lý được xem là “bản khai sinh” của thành phố Hải Phòng  chính là Hoà ước Philastre ( ký ngày 15-3-1874).  Điều 11 t của Hoà ước này cũng  có thể  xem là quyết định thành lập Cảng Hải Phòng ngày nay: Cửa biển Thị Nai tỉnh Bình Định, cùng cửa biển Ninh Hải tỉnh Hải Dương của nước Đại Nam. Và từ cửa biển ấy ngược lên một dải sông Nhị Hà suốt đến địa phận tỉnh Vân Nam của nước Đại Thanh và thành phố Hà Nội. Triều đình nước Đại Nam nên mở cho người Tây Dương và người các nước Tân Thế giới thông thương buôn bán…

Theo ý kiến chúng tôi, về bản chất, Hải Phòng là thành phố Cảng. Có cảng mà có thành phố Hải Phòng. Vị trí Hải Phòng vốn không phải là một trung tâm chính trị, kinh tế, hay cư dân. Theo các tài liệu khảo cổ, căn cứ vào mật độ các mộ Hán, thì vùng Bắc Thuỷ Nguyên tiếp giáp với Đông Triều mới là khu vực hành chính cổ xưa.

Từ vùng đất chua mặn ven sông Cấm mọc lên thành phố Hải Phòng, lý  do duy nhất nhờ có Cảng biển được phát triển ở đây.

Vậy, sự ra đời của của Cảng kéo theo các cơ quan dịch vụ Cảng, hàng hải, các cơ quan hành chính đi theo, cùng với việc xây dựng nơi ăn chốn ở của công chức, binh lính, thợ thuyền, nghĩa là kéo theo sự ra đời của thành phố Cảng.

Xin dẫn chứng về sự phát triển kinh tế và cư dân của Hải Phòng:

 

Dân số thành phố

năm

hàng hoá nhập khẩu (tấn)

năm

hàng hoá xuất khẩu (tấn)

 

1883: 5.000 (không kể lính Pháp: 10.000)

1875

9

1875

1055

1876

33

1876

3825

1877

41

1877

37795

1878

58

1878

25.435

1879

118

1879

20.031

1880

521

1880

30.425

1881

578

1881

11.284

1882

559

1882

29.364

1883

497

1883

2.591

1884

2310

1884

8.989

1885

7184

1885

68.118

1886

13637

1886

29.828

1887

25979

1887

70.075

1888

23017

1888

77.461

 

Rõ ràng hoạt động xuất nhập khẩu ở Cảng Hải Phòng từ 1875 tăng liên tục.

Đó cũng là quan điểm của TS. G.Raffi với công trình nghiên cứu về sự ra đời của Cảng Hải Phòng có thể nói có giá trị nhất từ trước đến nay.Theo ông, Hoà ước Philastre về việc mở Cảng Ninh Hải chính là ngày ra đời của thành phố Hải Phòng ngày nay.( C'est la signature du traité de mars 1874, qui constitue le véritable extrait de naissance du Hai Phong moderne - Chính bản ký kết hoà ước tháng 3 năm 1874 đã thực sự là bản trích lục giấy khai sinh của thành phố Hải Phòng hiện đại).

Về phía triều đình Huế, vua Tự Đức rất ý thức được việc  mở cảng Ninh Hải là sẽ dẫn đến sự hình thành ở đây phố phường phát triển sầm uất, nhộn nhịp; như lời Quan đại thần Nguyễn Văn Tường từng tâu lên:" Nay mở chợ, chứa hàng hoá, làm nhà, chiêu mộ người buôn ở Sông Cấm, cửa Ninh Hải khiến cho thành phố buôn bán vui vẻ, người buôn nước Thanh đã về ở đấy, thì người buôn nước Tây không cần bỏ chỗ ấy mà đi tìm chỗ khác. Xin mật tư cho 2 tỉnh Hà Nội và Nam Định, sức cho tất cả các người buôn trong hạt nếu có tình nguyện làm nhà ở, buôn ở cửa Ninh Hải, thì hạn trong 3 tháng đều đầu đơn ở quan tỉnh Hải Dương xin làm nhà, mở chợ ở 2 bên bờ sông Cấm, từ đồn Ninh Hải trở lên. Lại xin sắc xuống cho đình thần chọn người trông coi việc buôn, để cho được việc", Vua cho là phải. Sau khi đã ban cấp cả Hoà ước lẫn thương ước cho các địa phương, nhằm mục đích giải thích, động viên cho toàn quan, dân hiểu rõ chủ trương, làm cho tốt, vua Tự Đức dụ rằng:

"… Hoà ước đã định, bắt đầu thi hành từ năm nay (1874. Mùa Xuân sang năm sau, khi giao bản Hoà ước cho nhau, thì Thương ước cũng sẽ cử hành vào lúc ấy. Về phố Hà Nội và cửa Ninh Hải đã chuẩn cho quan Tây đặt lãnh sự để coi những thuyền buôn các nước. Ta cũng mở cửa quan sang thu các thuể tàu biển, làm nhà ở, buôn. Việc mới tuy làm, nhưng tài hoá lưu thông, nước được đầy đủ, hai bên đều có lợi, thương ước thành mà hoà hiếu có thể lâu dài, cùng yên với nhau, không xảy ra việc gì ở cả chỗ ấy. Xưa Lê Thái Tổ và triều đình nhà Minh gây chiến, sau khi giảng hoà, cho dân buôn Trung Quốc đến nhiều đất nước ta, đến nay hơn 400 năm, quen mà ở yên, gần đây triều đình Trung Quốc cùng 4 nước ở biển Tây giảng hoà, cũng cho đặt Khâm sứ, lãnh sự, và các người buôn nước Tây buôn bán ở bờ, cửa biển Trung Quốc, đây đều là việc dĩ nhiên, ai cũng đều tai nghe mắt thấy, không phải mới ở ngày nay, cũng không phải một mình nước ta…

Phải nên nghĩ kỹ trước sau, trên dưới cùng lòng để giữ toàn cục.Trẫm có lòng mong lắm. Còn như người buôn ở các cửa biển, các phố Hà Nội, Nam Định có muốn làm nhà, buôn bán ở cửa biển Ninh Hải cho được do quan chọn đất, nhận cửa hàng, đánh thu thuế, lệ, trừ Hoà ước, thương ước sẽ chuẩn cho in cấp tỉnh, đạo, phủ đều 1 bản để niêm yết, và thông sức cho các phủ huyện đều biết ra,  đặc cách giảng dụ này, bảo cho biết, cho đều tuân theo chớ quên".

Nói như ngày nay, đó là những lời kêu gọi đầu tư đối với cả thương nhân trong và ngoài nước vào thành phố Hải Phòng từ 133 năm về trước của vua Tự Đức. Cho nên coi hoà ước ký ngày 15-3-1874  “là bản khai sinh ra thành phố Hải Phòng ngày nay” như TS. G.Raffi là có cơ sở của nó.

Tuy nhiên, với quan điểm coi việc ngày quyết định mở Cảng đồng thời là ngày quyết định khai sinh ra thành phố Hải Phòng, chúng tôi cho rằng vẫn còn  có những sự kiện rất đáng quan tâm khác. Đó là việc cho đặt Sở Thuế quan Nhu Viễn ở sông Cấm năm 1866. (Trang 81, tập 31 Đại Nam Thực Lục Chính biên- NXB khoa học xã hội Hà Nội, 1975) "… Các đoàn thuyền người nhà Thanh, giúp việc đánh giặc lại kêu ở tỉnh Hải - Yên, rằng cửa Trà Lý hơi nước rất độc, không tiện đóng lâu, mà sông Cấm đi lại gần và tiện, xin ở đấy thông thương. Các thuế, lệ và điều cấm xin tuân theo tất cả. Vua đành cho bằng cách lập 1 sở thuế quan để thu thuế, là công tư lương lợi. Lấy dải sông những làng Lương Qui, Tam Bạc thuộc châu An Biên, làm chỗ cho thuyền buôn người Thanh đậu, đặt sở thuế quan, định ngạch thuế, đặt đồn, phái quân đóng, do quan tỉnh ấy chọn viên quan có tài cán trông coi làm việc…

Tàu buôn phủ Quý Châu, phủ Thiều Châu, Châu Nam Hùng, phủ Huệ Châu, phủ Triệu Khánh, tỉnh Chiết Giang và các nước Mã Cao, Tây Dương, Ma Lục Giáp (tức Malăcca)… tuỳ theo kích cỡ các hạng thuyền phải nộp thuế, thuế hàng hoá xuống cảng và chiểu theo lệ nhập cảng mà thu thuế…"

Cũng trong tập 31 sách trên, ở trang 287, nhà vua lại cho phép định lại mức thuế, vì mức thuế đánh ở khu vực sông Cấm là nặng.

Vậy là năm 1866, lại là mốc thời gian sớm hơn để triều đình Huế cho mở cảng trên mảnh đất Hải Phòng xưa. (Trước đó có tâu xin mà vua Tự Đức chưa cho phép- phải chăng có sự cấm đoán lưu thương mà sông mang tên là sông Cấm).

 

 Ngày thành lập thành phố Hải Phòng không thể là ngày 19-7-1888

  Căn cứ vào các văn bản, sự kiện nêu trên, không thể lấy ngày 19-7-1888 làm ngày thành lập thành phố Hải Phòng. Vì nội dung của nó là thành lập cơ quan thành phố và phương thức bổ nhiệm các thành viên của cơ quan này quy định số lượng biên chế, tiêu chuẩn uỷ viên Hội đồng thành phố và cách làm việc của ông Đốc lý.Nói khác đi, đó là quyết định về bộ máy nhân sự, nó phải ra đời sau khi có quyết định về việc thành lập đơn vị.

Theo chúng tôi, có 3 mốc thời gian xứng đáng để xét chọn làm ngày thành lập thành phố Hải Phòng. Đó là:

1. Ngày 25-8-1883 - ngày ký Hiệp ước Harmand, nâng cấp Hải Phòng lên cấp tỉnh, không là đơn vị hành chính thuộc Hải Dương.

2. Ngày 15-3-1874 - ngày ký Hoà ước Philastre (1874), ngày mở Cảng Ninh Hải (tên cũ của Hải Phòng)

3. Năm 1866 - Quyết định của vua Tự Đức lập Sở Thuế Nhu Viễn cho giao thương trong và  ngoài nước ở Cửa Cấm.

Trong 3 mốc thời gian trên, ý kiến của chúng tôi ngày ra đời cảng Hải Phòng chính là thành lập thành phố Hải Phòng.Theo đó, đến năm 2007, Hải Phòng tròn 133 năm. Và chúng ta có thể tiến hành lễ kỷ niệm 133 năm ngày thành lập giống như thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm 300 năm ngày thành lập ( 1998), thủ đô Hà Nội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long (2010) hoặc như  lễ kỷ niệm  100 năm ngày thành lập của  Trường Đại học Y Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng và một số địa phương khác./.