Thanh Hóa đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
(PLVN) - Với địa bàn rộng, dân cư đông, có miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, đồng bằng và ven biển, Thanh Hóa đang đứng trước yêu cầu đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL). Yêu cầu không chỉ nằm ở việc đưa pháp luật đến với người dân, mà quan trọng hơn là làm sao để pháp luật thực sự được hiểu, được vận dụng, trở thành công cụ để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Không chỉ là “nói gì”, mà còn là “đến với dân bằng cách nào, vào lúc nào”
Thanh Hóa hiện có diện tích hơn 11.114km2, dân số 4,32 triệu người, với 166 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó 78 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 57 xã khu vực III. Không gian địa lý và điều kiện dân cư đa dạng khiến nhu cầu tiếp cận pháp luật giữa các khu vực cũng có sự khác biệt rõ rệt.
Nếu ở đô thị, người dân có thể quan tâm nhiều đến đất đai, nhà ở, kinh doanh, môi trường, thủ tục hành chính; thì tại miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhu cầu lại gắn chặt với những vấn đề như đất đai, sinh kế, hôn nhân gia đình, phòng, chống tảo hôn, hòa giải ở cơ sở, an sinh xã hội...
Sự khác biệt đó đặt ra một yêu cầu không mới nhưng ngày càng rõ: PBGDPL không thể chỉ làm theo một cách thức chung cho mọi địa bàn, mọi nhóm đối tượng.
Thực tế tại xã Mường Lát (tỉnh Thanh Hóa) cho thấy, khoảng cách giữa việc tổ chức một hoạt động PBGDPL và việc để người dân thực sự tiếp nhận pháp luật đôi khi không hề nhỏ.
Mường Lát là xã biên giới, có địa bàn rộng, nhiều khu vực vùng sâu, vùng xa. Theo ông Lê Xuân Nguyên, chuyên viên phụ trách lĩnh vực tư pháp thuộc Văn phòng HĐND và UBND xã, hiện địa phương có 9 cán bộ làm công tác PBGDPL, phải đối diện với không ít khó khăn trong quá trình tiếp cận người dân.
Trước hết là rào cản về ngôn ngữ. Với một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, việc tiếp nhận quy định pháp luật vốn có nhiều thuật ngữ chuyên ngành không phải đơn giản. Người tuyên truyền phải hướng dẫn chậm, rõ ràng, lựa chọn cách diễn đạt dễ hiểu. Những khái niệm mang tính pháp lý, nếu chỉ được truyền đạt bằng ngôn ngữ chuyên môn, rất khó để người dân có thể tiếp nhận đầy đủ. Nói cách khác, người tuyên truyền không chỉ cần “biết luật”, mà còn phải biết cách nói về luật để người dân hiểu; đòi hỏi kỹ năng, kinh nghiệm, sự am hiểu về đặc điểm văn hóa, đời sống của từng cộng đồng.
Mặt khác, ở Mường Lát, nhiều khu vực xa trung tâm, đi lại khó khăn. Có khi cán bộ đến địa bàn thì người dân lại đang đi nương rẫy. Muốn gặp được bà con, cán bộ phải thay đổi thời gian tuyên truyền, thậm chí tổ chức vào buổi tối. Như vậy, PBGDPL ở vùng biên không chỉ là “nói gì”, mà còn là “đến với dân bằng cách nào, vào lúc nào”.
“Đúng đối tượng, đúng địa bàn, đúng nhu cầu”
Theo ông Mai Xuân Bình, Giám đốc Sở Tư pháp Thanh Hóa, từ thực tiễn của địa phương, công tác PBGDPL cần chuyển từ cách làm mang tính đại trà sang “đúng đối tượng, đúng địa bàn, đúng nhu cầu”, nhất là tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hướng đến “cung cấp những gì người dân cần”. Bởi đưa pháp luật đến với người dân không đơn thuần là chuyển tải thông tin, phát hành tài liệu, tổ chức tuyên truyền, mà quan trọng là người dân phải hiểu mình có quyền gì, nghĩa vụ gì, biết tìm kiếm thông tin pháp lý ở đâu và có thể vận dụng pháp luật.

“Một cuộc tuyên truyền có thể thu hút hàng trăm người tham dự, nhưng chưa chắc tất cả đều hiểu. Số lượng tài liệu được phát hành nhiều cũng không đồng nghĩa người dân đã đọc, hiểu, biết áp dụng vào những tình huống cụ thể. Vì vậy, hoạt động tuyên truyền, PBGDPL phải tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức, hành vi, ý thức tuân thủ pháp luật của người dân”, ông Bình nói.
Thanh Hóa đang thử nghiệm đánh giá PBGDPL bằng kết quả đầu ra và sự thay đổi trong đời sống, thay vì chỉ thống kê số lượng hoạt động. Thanh Hóa được Trung ương lựa chọn là địa phương triển khai thí điểm Đề án đổi mới hoạt động đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 4573/QĐ-UBND ngày 18/11/2024 về Bộ Tiêu chí riêng thí điểm đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL, sau đó tiếp tục điều chỉnh để phù hợp với việc sắp xếp đơn vị hành chính và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Việc đánh giá được triển khai thí điểm tại 3 sở, ngành và 7 xã, phường, tập trung vào những lĩnh vực gần với đời sống như hòa giải ở cơ sở, an ninh trật tự, môi trường, lao động, việc làm, phòng, chống ma túy, thực hiện nếp sống văn hóa trong tang lễ.
Nhóm tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra tại các xã, phường thí điểm cho thấy mức độ tác động của hoạt động PBGDPL với lĩnh vực cụ thể đạt 71,26%, trong khi mức độ lan tỏa với đối tượng thụ hưởng đạt 52%.
Theo ông Bình, hiệu quả của PBGDPL không nhất thiết phụ thuộc vào quy mô hoạt động. Một buổi hòa giải hoặc một cuộc tuyên truyền quy mô không lớn, nhưng được thực hiện đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng vấn đề người dân quan tâm, có thể góp phần giải quyết một mâu thuẫn, ngăn ngừa nguy cơ vi phạm pháp luật hoặc mất ổn định trong cộng đồng. “Đó là sự thay đổi đáng chú ý trong cách tiếp cận: Không lấy quy mô hoạt động làm thước đo duy nhất, mà nhìn vào tác động của hoạt động đó với đời sống. Nói ngắn gọn, phương pháp mà Thanh Hóa đang hướng tới là: Chuyển từ đếm xem đã làm bao nhiêu sang đo xem đã thay đổi được bao nhiêu”, ông Bình cho biết.
Từ góc nhìn cơ sở, để chuyển từ “phổ biến” sang “hiểu và vận dụng”, con người và nguồn lực là vấn đề cần được quan tâm.
Ông Lê Xuân Nguyên, Chuyên viên phụ trách lĩnh vực tư pháp thuộc Văn phòng HĐND và UBND xã Mường Lát cho rằng, cùng với đặc thù địa bàn, chất lượng đội ngũ làm công tác PBGDPL có ý nghĩa quan trọng. Địa phương đề xuất tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị và có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác này.
Đây cũng là vấn đề được Sở Tư pháp định hướng thời gian tới. Với vai trò cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh và cơ quan thường trực Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh, Sở xác định cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh và các địa phương để công tác PBGDPL thực sự trở thành nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; đồng thời đổi mới cách tiếp cận theo hướng xuất phát từ nhu cầu pháp luật thực tế của từng địa bàn, từng nhóm đối tượng; ưu tiên những nơi còn gặp khó khăn trong tiếp cận pháp luật.
Với 78 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 57 xã khu vực III, việc đưa pháp luật đến gần người dân đòi hỏi cách làm phù hợp, dễ hiểu, sát với điều kiện thực tế từng địa bàn.
Cùng với đó là tiếp tục đổi mới phương pháp đánh giá, lấy người dân làm trung tâm, tăng cường hướng về cơ sở; quan tâm nhiều hơn đến sự thay đổi về nhận thức, hành vi, khả năng vận dụng pháp luật thông qua khảo sát kết quả đầu ra. Các hình thức PBGDPL được định hướng đa dạng hơn, kết hợp phương thức truyền thống với truyền thông trên môi trường số và mô hình phù hợp với từng nhóm đối tượng.

