Thăm phòng tranh Nguyễn Hà – Đặng Tiến: Hai phong cách và sự độc đáo

Tôi không phải là người am tường nhiều về hội họa cũng như nghệ thuật. Nhưng gặp hai họa sĩ của 2 thế hệ ở phòng tranh Nguyễn Hà - Đặng Tiến, đã cuốn hút tôi về nghệ thuật và hội họa, theo cảm xúc và cảm nghĩ nhận của riêng mình.

Nguyễn Hà – họa sĩ già của những bức tranh không tuổi

 

Tôi mạo muội đặt tựa đề trong phần viết riêng về những tác phẩm của lão họa sĩ 76 tuổi này như vậy cũng bởi, nếu chỉ chiêm ngưỡng những bức tranh của ông, sẽ không ai đoán được người vẽ chúng đang ở độ tuổi nào. Tranh của Nguyễn Hà ngập tràn ánh sáng, nét mềm mại và rực rỡ những sắc màu thể hiện cái đẹp. Phần lớn trong số 28 bức trưng bày tại triển lãm tranh này là tâm sức dồn nén mà lão họa sĩ chuẩn bị từ Tết  Mậu Tý đến nay. Hai chất liệu chủ đạo được sử dụng là sơn mài và sơn dầu. Xem tranh Nguyễn Hà, thấy có gì đó huyền ảo, liêu trai, có gì đó mơ màng như đang sống trong không gian của các nàng tiên xinh đẹp.

 

Tranh của Nguyễn Hà thiên về phái đẹp và những đóa hoa sen. Ngay cả bức “Ông già thổi sáo”, tưởng như chủ đạo sẽ là một nhân vật đàn ông nhưng bên cạnh vẫn có dáng hình thiếu nữ. Tôi có cảm giác rất lạ khi xem những bức tranh của họa sĩ già này. Những mảng màu xử lý điệu nghệ như cuốn tôi vào thế giới trong tranh. Vô vàn những bóng hồng mềm mại giữa rừng hoa sen đang nở trong bức sơn mài “Thiếu nữ và hoa sen”, dáng xõa tóc chải đầu của cô gái bên dòng suối vắng trong “Mùa hạ”, thiếu nữ một mình với đóa hoa sen trong “Một mình”… Hay cả những bức gợi tâm thức vô thường của Đạo Phật như “Đám mây trôi”.

 

Một mình với phòng tranh vào buổi sớm, tôi đã lặng đi trước “Đám mây trôi”. Có gì đó mơ hồ sợ hãi, xót xa. Cảm giác cuộc đời của con người bồng bềnh, phiêu dạt tựa hồ như một đám mây cứ quanh quẩn trong tôi. Nguyễn Hà đã sử dụng bút pháp tài hoa của của mình để cấy vào lòng người xem là tôi cảm giác mong manh về số phận qua những mảng màu sáng trắng nhoè mờ.

 

“Cụ xử lý chất liệu rất giỏi nên mới có được những bức tranh sơn mài như thế này.” – đi bên tôi, họa sĩ Đặng Tiến khẽ nói như vậy. Dù là người “ngoại đạo”, nhưng tôi cũng có thể nhận thấy được điều này khi nhìn những mảng màu sơn mài mờ ảo tựa như những bức tranh phong cảnh có thực trong sương sớm. Họa sĩ Nguyễn Hà chung thủy với chất liệu sơn  ta truyền thống. Dùng chất liệu này đạt hiệu quả cũng đồng nghĩa với việc phải là bậc lão luyện tuy làm chủ chất liệu. Tôi còn cảm phục ông hơn khi nghe ông tiết lộ, chưa từng học qua trường lớp dạy vẽ nào. Tất cả được đúc kết từ cảm nhận, từ thực tiễn và từ sự say mê cái đẹp…

 

Cái hồn ấy, sự say mê ấy dồn cả vào những bức tranh của ông. Đẹp, huyền ảo, mơ mộng và đầy chất lãng mạn tựa hồ như người thiếu nữ. Không phải vì nhân vật trong tranh là phái đẹp, là hoa, là những mảng màu sáng mang chất “nữ tính” mà vì tôi không nhận thấy yếu tố tuổi tác ở chúng. Những người phụ nữ trong tranh đẹp mãi với thời gian, như bức tranh “Người đàn bà đẹp nhất” mà Nguyễn Hà khắc họa chân dung vợ mình sẽ còn mãi trong tâm trí tôi.

 

Góc khuất trong con người Đặng Tiến

 

Biết Đặng Tiến từ lâu, nhưng xem tranh anh tôi vẫn thấy bất ngờ trước những hình ảnh anh chọn làm ý tưởng sáng tác. Góc cạnh, cá tính, lẻ loi và đau đáu trước cuộc đời. Tôi hỏi “Sao đôi mắt nhân vật nào của anh cũng to, sâu và đau khổ đến vậy?” Anh chỉ mỉm cười lặng im. Bình thường, anh đã không phải người ồn ào, xem tranh của anh càng thấy có nhiều góc khuất trong người hoạ sĩ này. Dường như, anh luôn băn khoăn về những số phận. Con người trong tranh của anh là hình tượng của lớp người cần lao. Nào “Những người đàn ông ở bến Tam Bạc”, “Những người đàn ông vạn chài”, “Người đàn ông và cái thang”, hay “Chiều ở bến đò”, “Những người làm xe ba gác”… Những khuôn mặt khắc khổ, điếu thuốc lá trên tay với chấm lửa đỏ trong đêm. Mảng tối của cuộc sống đời thường hiện lên trong tranh Đặng Tiến bằng những gam màu trầm, tối nhưng không vì thế mà thiếu đi ánh sáng.

 

Tôi cảm nhận được ánh sáng ấy trong tranh của anh khi đứng trước bức “Trăng Tam Bạc”. Lạ. Bức họa có tựa đề là trăng mà không hề có ánh trăng. Cũng không có một vầng trăng sáng bạc trên bầu trời xám thẫm. Chỉ là những con thuyền cong cong như trăng lưỡi liềm cuối tháng, lững lờ neo đậu trên bến đỗ bình yên. Nhưng vẫn có cảm giác, ẩn trong đó là giấc ngủ nhọc nhằn của những người dân chài khi đêm xuống. Tôi chợt nhớ đến bút pháp vẽ mây nẩy trăng của những họa sĩ dòng tranh Thủy Mạc đời Đường. Có thể, Đặng Tiến cũng muốn người xem tranh của mình cảm nhận được một ánh trăng trong tâm thức của riêng anh.

 

Trăng của Đặng Tiến còn thêm một lần hiện lên trong bức “Đêm rằm”. Người đàn bà mang bầu, vẫn đôi mắt đau đáu nhìn đời, tay cầm nải chuối, tay bám tường một mình cô độc. Dáng đứng ấy, mái tóc ấy, khuôn mặt ấy cho tôi cảm giác lẻ loi. Cũng như người phụ nữ với con chó đá trong bức “Cầu vồng”. Mảng sáng lòa hiếm hoi bừng lên trong nền ghi bức tranh như gợi mở một điều gì đó tôi chưa thể gọi tên. Tôi chỉ có thể cảm thấy cái thần mà họa sĩ muốn gửi gắm dồn cả vào đôi mắt của người phụ nữ trong bộ dạng u hoài, mệt mỏi.

 

Nóng và dịu dàng, góc cạnh và e ấp, mạnh mẽ và mềm mại, tối và sáng…, những mảng màu, những nhân vật, những nét vẽ của 2 cách thể hiện khác nhau tạo nên sự độc đáo của phòng tranh của 2 họa sĩ với 2 cách khai thác đề tài khác nhau, tuy nhiên, vẫn gặp ở họ sợi kết nối là nỗi băn khoăn trước cuộc đời. Trăn trở trong “Đám mây trôi”(Nguyễn Hà) hay những đôi mắt mong chờ việc của “Những người làm xe ba gác”(Đặng Tiến) đều thể hiện tâm tư của họ với những màu sắc, đường nét, hình khối mang đậm cá tính.

 

Nghệ thuật không có điểm xuất phát, chỉ có điểm cắt của những đường thẳng song song tưởng như không bao giờ gặp nhau trong không gian. Những điểm cắt ấy đã giúp những người làm nghệ thuật ở hai thế hệ khác nhau, phong cách khác nhau gặp nhau ở một đích: đó là cái đẹp, như những gì các họa sĩ  Nguyễn Hà và Đặng Tiến  thể hiện qua phòng tranh này. Có lẽ, sẽ còn lâu lắm Hải Phòng mới có thêm một phòng tranh ý nghĩa như vậy.

 

Phạm Thùy Linh