Thách thức và áp lực từ cảng

Cảng  được coi là một tiềm năng và lợi thế lớn của Hải Phòng. Nhờ có cảng, những năm qua, thành phố có sức bật mạnh mẽ và trong tương lai, cảng vẫn là một trọng điểm đầu tư, khai thác. Năm 2008, sản lượng hàng hóa qua Cảng Hải Phòng lên tới  29 triệu tấn và năm 2009 hứa hẹn khoảng 30 triệu tấn. Đây là một sản lượng mơ ước của nhiều cảng Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh lợi thế, cảng đang phải chịu nhiều thách thức và áp lực. Theo Phó tổng giám đốc Cảng Hải Phòng Trương Văn Thái, luồng nông, xe tắc nghẽn… đang là một trong những áp lực, dẫn tới tình trạng quá tải tại Cảng. Hiện 18 cầu tàu của Cảng, lúc nào cũng có khoảng vài chục tàu chờ, có tàu vào từ cuối tháng 6 bởi hệ thống Cảng không đủ sức đáp ứng yêu cầu. Ông Thái cho biết thêm, thông thường, Cảng Hải Phòng có thể tiếp nhận khoảng 300 công- ten- nơ lạnh. Nhưng thời gian vừa qua, lúc cao điểm, con số này lên tới hơn 1.100 công- ten- nơ, nhất là ở khu vực Chùa Vẽ. Để “phục vụ” số công- ten- nơ lạnh này, Cảng Hải Phòng phải thiết kế thêm hàng nghìn ổ cắm điện. Bình thường, các công- ten- nơ lạnh được sắp xếp ở những ô riêng biệt, có giá đỡ, nhưng do không có chỗ nên Cảng đành kéo dây điện ra ngoài bãi để cắm cho các công- ten- nơ này. Cũng may là suốt từ đầu năm tới nay không xảy ra sự cố về điện, nếu không, số hàng hóa phải bảo quản lạnh khó có thể bảo đảm chất lượng.

   

Cũng theo ông Thái, từ đầu năm đến nay, sản lượng hàng hóa qua Cảng Hải Phòng khoảng 11 triệu tấn nhưng lượng hàng hút đi bằng đường sắt chỉ khoảng 600.000 tấn, một phần nhỏ nữa bằng đường thủy còn lại hầu hết bằng đường bộ, gây áp lực về sự quá tải trong vận chuyển. Xe công- ten- nơ bị cấm chạy ban ngày ở nhiều tuyến đường càng gây áp lực vận chuyển về đêm, kéo theo một loạt hệ lụy khác cả về kinh tế và xã hội…

   

Ngoài ra, Cảng Hải Phòng còn phải đối mặt với thách thức khi quy định đóng cửa điểm neo chuyển tải có hiệu lực vào ngày 31- 12-2009. Khi đó, các chủ hàng buộc phải tính toán phương án có lợi nhất, chọn cảng để vào, còn Cảng Hải Phòng đứng trước nguy cơ các thiết bị bốc xếp, đóng gói hàng rời, chủ yếu là thức ăn gia súc, không phát huy tác dụng, các đơn vị vận tải khác cũng bị ảnh hưởng theo.

   

Như vậy, ngay trong giai đoạn trước mắt, cảng bộc lộ nhiều vấn đề cần sự quan tâm giải quyết, tháo gỡ của thành phố và Trung ương. Trong đó, quan trọng nhất là phải nhanh chóng có kinh phí nạo vét, duy tu luồng, giảm sa bồi để đón tàu vào làm hàng. Bên cạnh đó là sự đồng bộ, gắn kết  giữa hệ thống cảng, luồng và hệ thống đường sắt, đường bộ nối với Cảng, bảo đảm giải tỏa nhanh hàng hóa. Theo ông Thái, thời gian qua, hàng nhập khẩu nhiều hơn hàng xuất khẩu nên sự tắc nghẽn mới xảy ra ở một chiều. Nhưng tới đây, khi hàng xuất khẩu cân bằng với hàng nhập khẩu hoặc nhiều hơn thì nguy cơ tắc nghẽn rất có khả năng xảy ra do thiếu sự kết nối và thiếu đồng bộ, manh mún, nhỏ lẻ. Rõ ràng, cảng biển Hải Phòng đang bộc lộ nhiều khiếm khuyết và việc chủ động ngăn chặn, giải quyết những vấn đề này là yêu cầu cấp bách vì sự phát triển của thành phố và cả khu vực./.

 

                                                                               Hồng Thanh