Tết năm ấy...

Kiến An có núi ông Voi
Có sông Văn Úc có đồi Thiên Văn

...Có một con đường chính  dẫn lên đến tận đỉnh đồi, nơi đặt đài thiên văn, rộng khoảng hai mét, xoáy lượn theo hình trôn ốc, được bắt đầu từ một phố chính của quận Kiến An. Đầu đường có cổng đắp hình lưỡng long chầu nguyệt, hai bên đề đôi câu đối: Đông Pháp Thiên Văn đại tổng cục - Bắc Kỳ Phù Liễn thị danh sơn. Người dân ở đây gọi nôm na là Cổng Rồng. Bất kỳ đứa trẻ con nào sinh ra ở Kiến An cũng đều muốn một lần đi qua Cổng Rồng, vì con đường lên đồi là thách thức khám phá đối với mọi đứa trẻ. Thuở ấy không có truyền hình suốt ngày đêm, không có ka-ra-ô-kê, không có internet, không có bạt ngàn quán cà phê cùng những cửa hàng Game online chào mời giới trẻ như bây giờ. Vì thế, ngọn đồi giữa lòng thị xã kia hàm chứa rất nhiều điều kỳ thú. Con đường dẫn lên đồi chính là con đường dẫn vào một thế giới bí ẩn. Mỗi đoạn đường là bao điều thú vị. Mỗi độ cao là dồn nén những bất ngờ. Chinh phục được con đường dẫn lên đồi là đồng nghĩa với sự trưởng thành của một cậu trai đất Kiến An. Tôi đã từng là một đứa trẻ con như thế, nhưng trước khi chinh phục được con đường xoáy trôn ốc dài dằng dặc ấy, tôi đã dừng lại rất lâu ở ngay đoạn đường đầu tiên.

T

Tết năm ấy...

Chợ quê

ại đoạn đường đầu tiên đó, nhìn về phía bên phải, giữa lưng chừng một vạt dốc thoải có khoảng dăm gian nhà cấp bốn. Một trong những gian nhà đó là của cô giáo tôi.

Cô giáo tôi khoảng 23, 24  tuổi, tên là Hồng Vân, rất xinh đẹp, có mái tóc dài đến gót chân. Cô dạy chúng tôi từ lớp 2 đến lớp 5. Điều ấn tượng nhất về cô đối với đám học trò chúng tôi là cô giáo rất hay... khóc nhè! Cứ khi nào cả lớp nhốn nháo, cô không làm sao ổn định được trật tự là cô lại khóc. Chúng tôi thường lấy đó làm niềm tự hào so với bọn học sinh lớp khác, vì cô của chúng tôi không “ác” như cô chúng nó, ngược lại còn rất hiền, thường bị chúng tôi bắt nạt. Nhưng bốn mươi ba học trò chúng tôi đều rất yêu quý cô. Khi vào lớp ba, chúng tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện tới thăm cô giáo vào ngày Tết.

Tết năm đó, bốn thằng chúng tôi rủ nhau đến nhà cô. Ngày đó cuộc sống còn rất đạm bạc, chúng tôi không xin tiền bố mẹ mà mỗi đứa xin một món quà rồi góp lại mang đến nhà cô. Tôi xin được mẹ hộp mứt, thằng Độ xin của nhà nó cái bánh chưng, thằng Hoan góp hộp bánh bích quy, thằng Hải không có gì,  chúng tôi vẫn gật đầu cho nó đi theo, vì nó là đứa duy nhất trong hội biết nhà cô.

Lần đầu tiên chúng tôi bước chân vào Cổng Rồng. Nhà cô ở trên núi à? Chúng tôi đều quay sang thằng Hải hỏi. Kia kìa, cứ theo bậc cầu thang này mà leo lên. Thằng Hải chỉ cho chúng tôi thấy những gian nhà nằm lưng chừng dốc rồi dẫn đến một lối đi nhỏ được xây thành từng bậc. Dãy nhà đã ở trước mặt chúng tôi. Một bà cụ tóc bạc như cước đang xách ấm nước nhìn thấy chúng tôi, hỏi: “Các cháu thăm nhà ai?” “Nhà cô Hồng Vân ạ”. Bà cụ cười, bảo: “Vào đây, vào đây”. Chúng tôi được dắt vào gian nhà cuối dãy. Cô giáo của chúng tôi đang ngồi bên chiếc bàn nhỏ có phủ vải hoa, trên bàn có lọ hoa đồng tiền, bộ ấm chén và một đĩa bánh kẹo. “Chúng em chào cô ạ”, chúng tôi đồng thanh chào. Cô giáo nhìn chúng tôi pha chút ngạc nhiên, rồi vui vẻ mời vào nhà. Cô giáo lấy chiếc ghế dài ở gian trong ra mời chúng tôi ngồi. Ba đứa chúng tôi ngồi chung trên một chiếc ghế ấy. Thằng Hải ghé mông ngồi lên chiếc giường vừa được cô kéo gọn ri đô lại. Cô mời chúng tôi ăn bánh kẹo. Lát sau mẹ cô bê vào một đĩa bánh chưng đã bóc. Cô mời mỗi đứa một miếng. Chúng tôi ăn ngon lành. Cô hỏi: “Leo lên nhà cô có mệt không?” Chúng tôi đồng thanh: “Mệt ạ”. Cô chỉ vào chiếc xe đạp: “Thế mà ngày nào cô cũng vác chiếc xe này lên xuống để đến lớp dạy các em đấy. đấy. Khi nào các em đến thăm nhà cô mà không thấy mệt, thì khi ấy các em mới thực sự trở thành người lớn”. Cô lại hỏi: “Các em đã lên đồi Thiên Văn bao giờ chưa?” Tất nhiên là chúng tôi đều lắc đầu. Cô bảo: “Đi ra đây cô chỉ cho xem, cảnh đẹp lắm”. Cô dẫn chúng tôi ra đầu hồi nhà, tới một gốc phượng cổ thụ. Từ đấy nhìn xuống đường chúng tôi thấy người và xe đạp lác đác qua lại, nhỏ bé và xa lạ, cảnh sắc thật buồn cười. Lần đầu tiên chúng tôi nhìn đường phố ở một tầm cao như thế này. Lần đầu tiên chúng tôi biết thế nào là đồi núi. Chung quanh chúng tôi có rất nhiều cây. Cây phượng và cây bằng lăng không còn lá, trơ cành khẳng khiu, cây thông lá kim xanh và cứng, cây dứa dại khắc vào nền trời những tấm lá hình lưỡi mác, cây cơm nguội tán xòe rậm rạp, cây vông chìa những mảnh lá tạo hình kỳ quặc, cây trạng nguyên lấp ló sắc đỏ… cùng nhiều loại cây tạp và dây leo. Chen vào đó là rất nhiều loài hoa đẹp. Cô bảo: “Nay mai lớn lên, các em lên đỉnh đồi kia đứng nhìn sẽ thấy quê hương mình rất đẹp. Còn bây giờ thì cố gắng học cho giỏi đã”,

 Tết năm ấy cả bốn đứa chúng tôi đều chưa ai bước sang tuổi thứ 10. Và chúng tôi là người hạnh phúc nhất lớp vì được cô mừng tuổi. Sau khi dời khoảnh dốc có rất nhiều cây xanh, cô đưa chúng tôi xuống tận bậc thang cuối cùng, rồi mừng tuổi cho chúng tôi mỗi đứa một hào. Cô dặn: “Lần sau đến chơi với cô không phải mang cái gì nhé”. “Vâng ạ”, chúng tôi lại đồng thanh. Nhưng những cái Tết sau chúng tôi không còn được đến nhà cô nữa. Cô đã không còn ở với người mẹ già trong gian nhà bên chân đồi. Cô đi lấy chồng và về ở với nhà chồng đâu đó mãi bên nội thành.

Chúng tôi lên cấp hai, cấp ba, rồi vào đại học, được đi nhiều nơi, vào nhiều khu rừng, đặt chân lên nhiều quả đồi. Chúng tôi cũng đến thăm nhiều thầy cô giáo khác vào ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Nhưng cái Tết đầu tiên đến nhà cô giáo năm ấy cứ mãi tinh khôi trong tâm hồn. Một bánh chưng, một hộp mứt, một gói bánh, bốn thằng bạn chưa kịp lên 10, và lần đầu tiên nhìn cuộc đời từ một tầm cao mới. Bây giờ thì tôi đã lớn, đã biết quê hương mình rất đẹp, nhưng cô Hồng Vân của tôi thì đã lâu lắm rồi không gặp.

Tết này có lẽ mái tóc của cô cũng đã có sợi bạc rồi? .                                                                      

Nguyễn Đình Tú