Tết Mậu Thân và cuộc tổng tiến công- nổi dậy lịch sử

Cách đây 40 năm, đúng vào Tết Mậu Thân - 1968, quân và dân miền Nam đồng loạt Tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Chợ Lớn và hơn 60 thành phố, thị xã, thị trấn ở miền Nam. Thắng lợi oanh liệt Tết Mậu Thân của quân và dân ta làm đảo lộn chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý đồ xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri. Thắng lợi to lớn  Tết Mậu Thân là cột mốc lịch sử, tạo ra cục diện mới trên chiến trường để quân, dân ta tiếp tục tiến lên giành toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào mùa Xuân Ất Mão 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, ở thế kỷ 20, nhân dân Việt Nam ta đã phải đương đầu với đế quốc Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ. Với cuồng vọng nghiền nát lực lượng cách mạng ở miền Nam và đẩy lùi miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá, những kẻ cầm quyền hiếu chiến Mỹ đã tung vào nước ta một đội quân viễn chinh hơn 60 vạn tên (gồm quân Mỹ và quân của 5 nước chư hầu) làm nòng cốt cho hơn một triệu quân nguỵ. Riêng về quân Mỹ, chúng  huy động lúc cao nhất tới 68% bộ binh; 60% lính thuỷ đánh bộ; 32% lực lượng không quân chiến dịch; 50% lực lượng không quân chiến lược. Tổng cộng, chúng đã động viên tới 6 triệu lượt binh sĩ Mỹ, ném xuống đất nước ta
7 triệu 850 nghìn tấn bom các loại.

Với kẻ thù có sức mạnh quân sự và hung hãn như vậy, Đảng ta nhận thức rằng muốn chiến thắng chúng, quân và dân ta phải có quyết tâm sắt đá, biết huy động sức mạnh tổng hợp, phải thông minh, sáng tạo, biết cách đánh và cách thắng.

Trong chặng đường 21 năm chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống Mỹ, cứu nước, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta là một cột mốc lịch sử, là cuộc tập kích chiến lược có ý nghĩa to lớn, có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tổng kết sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Đại hội toàn quốc lần thứ 4 của Đảng ta đã chỉ rõ :"Thắng lợi rất oanh liệt của Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân đã đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với ta tại Pa-ri".

40 năm đã qua kể từ ngày quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968 - 2008). Nhân dịp này, chúng ta cùng nhau ôn lại trang sử vẻ vang, chói lọi và đầy tự hào của dân tộc, hiểu rõ thêm đường lối và phương pháp cách mạng sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu; tưởng nhớ và biết ơn những đồng chí, đồng bào và chiến sĩ ta đã chiến đấu hy sinh, lao động gian khổ, đóng góp vào cuộc chiến đấu to lớn này; tiếp tục rút ra những bài học thiết thực nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

 

Miền Nam những năm trước Tết Mậu Thân

Trong 15 năm, kể từ năm 1954 đến năm 1967, trên đất nước ta, đặc biệt là miền Nam ruột thịt, diễn ra biết bao sự kiện quan trọng.

Sau khi quân và dân ta kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp xâm lược bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ - ne -vơ được ký kết. Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền: Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bắt tay vào khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Cũng theo Hiệp định, sau 2 năm ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, vào năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử trên cả hai miền Nam - Bắc để tiến hành thống nhất nước nhà. Nhưng đế quốc Mỹ trắng trợn phá hoại việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, làm căn cứ quân sự để tiến công miền Bắc và là tiền đồn chống lại hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Tháng 7 - 1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về lập chính quyền bù nhìn và ra sức đàn áp cách mạng. Từ năm 1956 đến năm 1959, Mỹ - Diệm điên cuồng đánh phá lực lượng yêu nước  ở miền Nam. Chúng lùng bắt, tù đày, tra tấn, chém giết hàng loạt cán bộ và những người yêu nước; ráo riết thực hiện âm mưu "bình định", gom dân vào các trại tập trung trá hình gọi là "ấp chiến lược". Nhưng chúng bị quân và dân miền Nam cùng cả nước kiên quyết đánh trả. Chính quyền cơ sở của địch bị phá vỡ từng mảng lớn; kế hoạch "bình định" và lập "ấp chiến lược" của chúng bị phá sản. Phong trào đồng khởi  của nhân dân chống Mỹ - Diệm (cuối năm 1959), đặc biệt là sự ra đời của tổ chức Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (năm 1960)  - ngọn cờ đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân miền Nam đấu tranh chống Mỹ- ngụy, báo hiệu sự sụp đổ của chế độ thực dân mới.

Hoảng hốt trước những đòn tiến công dồn dập về chính trị và quân sự của quân, dân miền Nam và sự chi viện của miền Bắc, đế quốc Mỹ chuyển hướng tiến hành chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (tức chiến tranh bằng quân ngụy do Mỹ huấn luyện, trang bị và nuôi dưỡng). Thực hiện chiến lược này, với "kế hoạch Xta-lây – Tay-lo", Mỹ dự định "bình định" miền Nam trong 18 tháng. Chúng tăng cường lực lượng quân nguỵ do cố vấn Mỹ chỉ huy, dùng quân nguỵ và nhiều máy bay lên thẳng, xe thiết giáp của Mỹ để nhanh chóng tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam. Chúng cấp tốc xây dựng bộ máy nguỵ quyền, giữ vững kiểm soát tại thành thị, dập tắt phong trào cách mạng ở nông thôn, tiến hành quốc sách "ấp chiến lược" và chính sách "bình định". Chúng vừa ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, kiểm soát biên giới, ven biển nhằm cô lập cách mạng miền Nam, vừa tăng cường chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, chống phá miền Bắc.

Sau hai năm tiến hành "chiến tranh đặc biệt", "kế hoạch Xtalây –Taylo" của Mỹ bị thất bại thảm hại : Quân và dân miền Nam giành nhiều thắng lợi có ý nghĩa quan trọng.

- Về quân sự,  quân và dân ta liên tiếp đánh thắng Mỹ - nguỵ tại Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, nổi bật là chiến thắng ngày 2-1- 1963 của quân và dân ta ở Ấp Bắc, xã  Tân Phú Trung, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Trong trận này, mặc dù lực lượng ta ít hơn của địch 10 lần, nhưng quân ta đã đánh bại 2000 quân địch với trang bị kỹ thuật hiện đại, có nhiều máy bay lên thẳng và xe bọc thép yểm trợ.

- Phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân ở các thành thị miền Nam phát triển mạnh và rộng khắp.

- Từng mảng lớn "ấp chiến lược " do Mỹ - nguỵ xây dựng  ở nông thôn bị nhân dân ta phá nát.

 

Trước sự phá sản của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ chuyển sang "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta. Đặc điểm của "chiến tranh cục bộ" là Mỹ không chỉ dựa vào lực lượng nguỵ quân, nguỵ quyền làm công cụ chủ yếu mà trực tiếp xâm lược nước ta, đưa lực lượng lớn quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam và tiếp tục mở rộng chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân ở miền Bắc.

Để thực hiện "chiến tranh cục bộ", Mỹ đưa ngày càng nhiều quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam nước ta, dùng quân Mỹ làm lực lượng nòng cốt tiến hành các cuộc phản công chiến lược nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền nguỵ.

Cuối năm 1964, tổng số lính Mỹ ở miền Nam nước ta là 2 vạn 4.000 tên; đến tháng 9 - 1965 tăng lên 5 vạn tên; cuối năm 1965 lên tới 18 vạn tên và 2 vạn lính của các nước chư hầu, chưa kể gần 7 vạn tên thuộc lực lượng hải quân và không quân Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Số máy bay Mỹ huy động năm 1964 là 1.180 chiếc; đến cuối năm 1965 là 2.300 chiếc. Hạm đội 7 và các phi đoàn máy bay B52 của Mỹ ở đảo Gu-am trực tiếp phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Ở miền Bắc nước ta, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân. Bịa ra "sự kiện vịnh Bắc Bộ", từ đầu tháng 8 - 1964, Mỹ trắng trợn dùng lực lượng lớn không quân ném bom, bắn phá miền Bắc rất dã man, và định trong vòng 6 tháng "đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá".

Ở miền Nam, với chiến lược  "chiến tranh cục bộ", từ năm 1965 đến 1967, đế quốc Mỹ mở hai chiến dịch phản công chiến lược lớn vào mùa khô. Từ cuối năm 1965 đến đầu năm 1966, Mỹ mở chiến dịch phản công mùa khô thứ nhất với 450 cuộc hành quân, trong đó có chiến dịch 5 mũi tấn công vào Củ Chi, vùng Đông Bắc Sài Gòn và các vùng Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.

Quân và dân cả nước ta, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với khẩu hiệu "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", quyết tâm đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, dù chúng có thể đưa bao nhiêu quân vào miền Nam và tàn phá đến mức nào đối với miền Bắc nước ta.

Trong mùa khô thứ nhất, cả 5 mũi tấn công của Mỹ đều bị thất bại thảm hại.  Từ một số trận đánh quân Mỹ tại Núi Thành, Vạn Tường, Đất Cuốc, Bàu Bàng, Plâyme, các lực lượng vũ trang giải phóng đã tìm ra cách đánh phù hợp. Lực lượng cách mạng ở miền Nam ngày càng lớn mạnh. Quân và dân miền Nam chiến đấu ngày càng thắng lợi. Hàng ngàn anh hùng, dũng sĩ diệt Mỹ xuất hiện. Phong trào "tìm Mỹ mà đánh, lùng nguỵ mà diệt", "nắm thắt lưng Mỹ mà đánh" … phát triển rộng khắp. Cả nước một lòng, hàng chục vạn nam nữ thanh niên khắp các tỉnh, thành phố ở miền Bắc hăng hái lên đường "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", tiếp sức với đồng bào miền Nam ruột thịt chiến đấu chống Mỹ xâm lược.

Cay cú trước thất bại của chiến dịch phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất (1965 - 1966), Mỹ ồ ạt đưa thêm quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam. Chúng tăng quân Mỹ và quân các nước chư hầu từ 20 vạn lên 40 vạn tên và mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai hòng giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh xâm lược và sớm kết thúc chiến tranh. Trong cuộc phản công lần này, chúng tập trung lực lượng, liên tiếp mở ba cuộc hành quân càn quét lớn chưa từng có, mang tên "Át-tơn-bơ-rô", "Xi-đa-phôn", "Gian-xơn Xi-ty" nhằm vào các khu căn cứ cách mạng ở miền Đông Nam Bộ. Riêng trận càn "Gian-xơn Xi-ty", chúng huy động tới 4 vạn 5000 quân Mỹ, trong đó có các sư đoàn bộ binh thiện chiến nhất của Mỹ như Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ", Sư đoàn  25 "Tia chớp nhiệt đới", lữ đoàn dù số 173, lữ đoàn xe tăng, thiết giáp số 11 gồm 3000 chiếc, với sự yểm trợ của 300 khẩu pháo hạng nặng, hơn 300 máy bay lên thẳng, hàng ngàn máy bay phản lực chiến đấu các loại, chưa kể máy bay B52 từ đảo Gu-am đến ném bom rải thảm. Tướng Mỹ Oét-mo-rơ-len, Tổng chỉ huy quân Mỹ tại miền Nam Việt Nam, hứa với Nhà Trắng và Lầu Năm Góc rằng, với trận càn quy mô lớn "Gian-xơn-xi-ty", hình thành hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định", chúng sẽ bao vây, nghiền nát khu căn cứ của các cơ quan Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tại tỉnh Tây Ninh, tiêu diệt các cơ quan đầu não kháng chiến của miền Nam cùng lực lượng chủ lực Quân Giải phóng và  nhanh chóng "bình định" xong các tỉnh trong vùng.

Nhưng một lần nữa, chiến dịch phản công chiến lược mùa khô của Mỹ lại thất bại nặng nề. Nếu trong mùa khô thứ nhất, quân và dân miền Nam loại khỏi vòng chiến đấu 11 vạn 4000 tên trong tổng số hơn 70 vạn tên, thì mùa khô thứ hai, quân và dân ta  bẻ gãy cả hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" của Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 17 vạn 5000 tên trong tổng số 1 triệu 20 vạn tên (gồm cả quân Mỹ, quân nguỵ và chư hầu); tiêu diệt 49 tiểu đoàn (có 28 tiểu đoàn Mỹ); phá huỷ, bắn cháy 1.800 máy bay, 1.786 xe tăng, đánh chìm và phá hỏng hơn 100 tàu, xuồng.

Phối hợp chặt chẽ với tiến công quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân vẫn giữ vững và phát triển. Nhân dân các đô thị, nhất là ở Sài Gòn - Chợ Lớn, Huế, Đà Nẵng liên tiếp đấu tranh chống Mỹ - nguỵ, đòi quyền tự do, dân chủ.

Sau khi đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của Mỹ, lực lượng quân sự và chính trị của ta lớn mạnh hơn trước rất nhiều.. Nhân dân miền Nam mở rộng quyền làm chủ nhiều vùng ở đồng bằng, miền núi và ven đô thị. Ta giành được chủ động trên chiến trường.

Ở miền Bắc, quân và dân hậu phương lớn vừa tiếp tục chi viện  tiền tuyến lớn miền Nam, vừa đánh trả quyết liệt chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ, gây cho chúng những tổn thất nặng nề về máy bay và giặc lái.

Phong trào quốc tế ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta chống Mỹ phát triển mạnh.. Nhân dân Mỹ ngày càng phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Nội bộ giới cầm quyền Mỹ mâu thuẫn gay gắt.

 

"Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua"

Mùa thu năm 1967, sau khi bị quân và dân ta đánh bại trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai, Mỹ bị tổn thất nặng nề cả về quân sự và chính trị, thất bại cả về chiến lược và chiến thuật. So với mục đích chính trị và quân sự thì những cố gắng chiến tranh của Mỹ và những thiệt hại của chúng đã tới đỉnh cao. Mỹ cố tìm cách giữ cho tình hình miền Nam Việt Nam không xấu thêm đối với chúng. Trong tình thế tiến thoái lưỡng nan, trước sức ép của phe hiếu chiến, tháng 12-1967, Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn quyết định đưa thêm 10 vạn quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, nâng tổng số quân Mỹ tại đây lên hơn 48 vạn tên. Đến đầu năm 1968, số quân Mỹ tại miền Nam đã lên tới hơn nửa  triệu tên, chưa kể sự yểm trợ của 20 vạn quân Mỹ tại các căn cứ quân sự Mỹ ở châu Á, Hạm đội 7 cùng 60 vạn quân nguỵ và 7 vạn quân các nước chư hầu. Mỹ trù tính liều lĩnh mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ ba (1967 - 1968) ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc cả về quy mô và cường độ để có "thế mạnh" khi phải ngồi vào bàn thương lượng với ta.

Về phía ta, vào thời điểm đó, chúng ta thắng Mỹ cả về chiến lược và chiến thuật; lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ  nào. Ta đang nắm quyền chủ động trên chiến trường, tuy còn có một số nhược điểm về đánh tiêu diệt lớn, về công tác đô thị, công tác binh vận và bảo đảm vật chất trang bị. Từ sự nhận định đúng tình hình và dự kiến khả năng diễn biến của chiến tranh, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 3) quyết định động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta quyết tâm đưa cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam lên bước phát triển cao nhất  bằng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định. Ban Chấp hành Trung ương Đảng dự kiến các khả năng có thể phát triển của cuộc tổng tiến công và chỉ rõ: dù tình hình diễn biến như thế nào, ta cũng liên tiếp tấn công địch cho đến khi thắng lợi hoàn toàn.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc đều khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968.

Ở miền Nam, vũ khí, đạn dược bí mật chuyển vào cất giấu tại các vùng giáp ranh và ngay trong các thành phố, thị xã. Được sự giúp đỡ của các cơ sở ở nội thành, một bộ phận lực lượng vũ trang giải phóng đã thâm nhập vào các thành phố trước ngày ta nổ súng tiến công.

Mặc dù quân và dân ta có nhiều hoạt động với quy mô lớn nhưng bộ máy mật vụ của Mỹ - nguỵ vẫn không phát hiện được. Trong thời gian chuẩn bị cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, quân ta đã đánh một số trận mở màn ở Lộc Ninh, Đắc Tô, Tuy Phước, Hậu Nghĩa, Khe Sanh, làm cho địch bị động hơn, buộc chúng phải phân tán lực lượng để đối phó, không phán đoán được hướng tiến công chính của ta.

Mọi công việc được quân và dân ta chuẩn bị xong với mức cố gắng cao nhất và giữ được bí mật đến giờ chót.

Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, tức  đêm giao thừa và ngày mồng 1 Tết Mậu Thân, trong khi Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng đang truyền đi cả nước bài "Thơ chúc Tết Mậu Thân" của Bác Hồ : "Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận, tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên ! Toàn thắng ắt về ta!" thì từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, với khí thế bão táp cách mạng, quân và dân toàn miền Nam tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy táo bạo, mạnh mẽ.  Một số địa phương ở Khu 5 và Tây Nguyên quân ta nổ súng tấn công trước một ngày (theo lịch miền Nam). Các tỉnh, thành phố khác đồng loạt Tổng tiến công và nổi dậy theo kế hoạch. Nhờ giữ được thế bất ngờ, ta đánh mạnh vào bộ máy chiến tranh của Mỹ - nguỵ, bao gồm nhiều cơ quan đầu não, cơ quan chỉ huy ở hầu hết các sào huyệt của địch tại 64 thành phố, thị xã, huyện lỵ, chi khu quân sự và hàng trăm sân bay, kho tàng, khu hậu cần, đường giao thông quan trọng …

Tại thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, trung tâm chính trị của địch, nơi chúng có hệ thống phòng thủ vững chắc nhiều tầng, nhiều lớp với nhiều loại lực lượng,  ta đánh thẳng vào tòa Đại sứ Mỹ, "dinh Độc Lập", Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân nguỵ, Đài Phát thanh Sài Gòn, trường huấn luyện Quang Trung của quân nguỵ, sân bay Tân Sơn Nhất cùng hàng loạt cơ quan hậu cần Mỹ - nguỵ. Bộ Tư lệnh biệt khu Thủ đô, Tổng Nha cảnh sát và sở chỉ huy các sư đoàn bộ binh số 1, số 9, số 25 và số 101 của Mỹ bị bộ binh và pháo lớn của Quân Giải phóng áp đảo. Các trận địa pháo, các căn cứ thiết giáp của địch ở Phù Đổng và Cổ Loa (Gò Vấp) bị tiêu diệt. Hàng chục vạn quần chúng ở các quận, 4, 5, 6, 7 nổi dậy và làm chủ một số ngày ở nhiều khu phố.

Tại Huế, quân và dân ta tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, đều khắp, ngay từ 2 giờ 33 phút mồng 1 Tết, ta đã chiếm lĩnh cả thành phố và tỉnh Thừa Thiên, diệt trừ bọn ác ôn, phản động, giữ vững quyền làm chủ và tiếp tục chiến đấu suốt 25 ngày. Quân giải phóng tấn công, chiếm giữ dinh Tỉnh trưởng, đồn cảnh sát, Đài phát thanh Huế, sân bay và nhiều cơ sở hậu cần của Mỹ - nguỵ. Địch chỉ còn cố thủ ở một số căn cứ như Mang Cá, Tam Thai, Nam Giao … Chính quyền cách mạng được thành lập ở nhiều khu vực trong thành phố. Hàng ngàn thanh niên tình nguyện tham gia các đội du kích, tự vệ. Trong 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế (từ 31-1 đến 24-2-1968), quân và dân ta tiêu diệt 2 vạn 5.700 tên địch, bắt sống 1.723 tên, bắn rơi và phá huỷ 255 máy bay các loại, phá huỷ 500 xe quân sự.

Ở Đà Nẵng, quân ta tiến công sở chỉ huy Quân đoàn 1 nguỵ và một số trận địa của Mỹ - nguỵ ở núi Non Nước và núi Phước Tường. Tại nhiều thành phố, thị xã khác và các vùng nông thôn từ Quảng Trị đến Cà Mau, từ đồng bằng đến Tây Nguyên, quân và dân ta tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề.

Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968 là rất to lớn. Chỉ trong vòng 45 ngày, quân và dân ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 15 vạn  tên địch (trong đó có 4 vạn 3000 tên Mỹ và chư hầu); hơn 2 vạn quân nguỵ đào, rã ngũ; bắn rơi và phá huỷ 2.370 máy bay các loại; phá huỷ 1.700 xe tăng và xe bọc thép, 350 khẩu pháo, 280 tàu, xuồng, phá hỏng và làm thiệt hại 1 triệu 36 vạn 8000 tấn vật tư chiến tranh (bằng 34% tổng số dự trữ của địch ở miền Nam). Ta còn bức rút, bức hàng 700 đồn bốt,  phá hơn 1.200 "ấp chiến lược", giải phóng thêm hơn 1.000 thôn, ấp và 1 triệu 60 vạn dân.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tuy không đạt được mục tiêu cao nhất nhưng đã tạo ra cục diện mới, đưa cách mạng miền Nam tiếp tục tiến lên. Thắng lợi ấy làm tăng thêm lòng tin tưởng của quân và dân ta vào sự tất thắng của sự nghiệp giải phóng miền Nam, làm cho bè bạn ta trên thế giới vui mừng, còn nội bộ của những kẻ cầm quyền hiếu chiến ở Mỹ ngày càng mâu thuẫn.

                                 

 Chiến thắng oanh liệt, ý nghĩa to lớn

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân dã ghi vào lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta những trang chói lọi, mở ra cục diện mới, đưa cách mạng Việt Nam lên cao trào mới, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên giành toàn thắng trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân Ất Mão - 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Ý nghĩa to lớn của chiến thắng Tết Mậu Thân thể hiện ở các mặt sau đây:

1. Quân và dân ta đã giáng một đòn chí mạng vào hệ thống nguỵ quân, nguỵ quyền, công cụ chủ yếu của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ.

Mặc dù Mỹ-nguỵ tốn nhiều công sức xây dựng, nhưng chỉ trong một tháng rưỡi, có tới 14 vạn 7000 quân (gồm quân Mỹ, quân  nguỵ, quân chư hầu) bị tiêu diệt và bị thương; khoảng 20 vạn quân nguỵ, đào rã ngũ. Toàn bộ hệ thống nguỵ quyền bị suy sụp nhanh chóng. Hầu hết các cơ quan nguỵ quyền cao cấp, từ cái gọi là "dinh tổng thống", Tổng Nha cảnh sát, Bộ Tổng tham mưu đến bọn cầm đầu nguỵ quyền tỉnh, quận, huyện, xã đều bị quân và dân ta tấn công, gây thiệt hại nặng.

Mỹ coi kế hoạch "bình định nông thôn" là chủ trương chiến lược nhằm chiếm đất, giành dân, lập bộ máy thống  trị thực dân kiểu mới của chúng. Việc ta giải phóng vùng nông thôn rộng lớn lần này là cắt nguồn cung cấp sức người, sức của cho chiến tranh xâm lược, đập tan "vành đai an toàn" che chở cho các thành thị và hệ thống căn cứ của địch.

2. Quân và dân ta đã đưa chiến tranh vào tận sào huyện của địch ở đô thị và giáng đòn nặng nề vào lực lượng quân sự và ý chí xâm lược của Mỹ,  làm đảo lộn thế chiến lược, phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", làm lung lay ý chí xâm lược của chúng, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc và phải ngồi vào đàm phán với ta tại Pa-ri.

Lực lượng của Mỹ ở miền Nam nước ta rất lớn, trang bị rất hiện đại. Ý đồ  xâm lược của chúng rất nham hiểm. Trong chiến tranh xâm lược, các đô thị có vị trí quan trọng chiến lược. Mỹ - nguỵ coi đô thị là đầu não, trung tâm chính trị, kinh tế và là sào huyệt của chúng. Trong Tết Mậu Thân, quân và dân ta đánh thẳng vào hầu hết các đô thị, làm đảo lộn thế chiến lược của Mỹ, đẩy quân Mỹ lún sâu vào tình thế bị động, sa lầy ở miền Nam, giống như con cá voi mắc cạn trên bãi cát.

Đầu năm 1965, khi ồ ạt đổ quân Mỹ vào miền Nam nước ta, Mỹ quả quyết "nhất định thắng Việt Cộng". Sau trận càn Gian-xơn Xi-ty và cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai bị đại bại, Mỹ tuyên bố " Mỹ không thắng nhưng không thua". Sau khi bị đòn choáng váng Tết Mậu Thân, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn nói : "Mỹ không đầu hàng!". Tướng Oét-mo-rơ-len, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị cách chức.  Còn Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra thì từ chức. Ngày 31-3-1968, Giôn-xơn phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận đàm phán với ta ở Pa-ri và không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai nữa. Rõ ràng, Mỹ chưa từ bỏ ý đồ xâm lược nước ta, nhưng ý chí xâm lược đã bị giáng đòn nặng nề và bị lung lay, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi đàm phán với ta, mở ra cục diện mới cho cách mạng miền Nam. Một mặt trận mới được mở ra : mặt trận ngoại giao. Từ đây, ta phối hợp và tiếp tục tiến công Mỹ - nguỵ cả trên ba mặt trận là quân sự, chính trị,  ngoại giao, tạo điều kiện để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

3. Cách mạng miền Nam lớn mạnh vượt bậc, tạo ra cục diện mới. Cách mạng miền Nam với hai lực lượng, ba thứ quân phát triển nhảy vọt.  Vùng giải phóng, hậu phương trực tiếp của ta được mở rộng và nối liền, tạo thế đứng vững chắc, thế tiến công của quân và dân ta mạnh mẽ hơn.

4. Khẳng định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng ta đúng đắn và sáng tạo. Đảng ta không những quyết tâm đánh Mỹ  mà còn biết đánh Mỹ và biết kéo chúng  xuống thang chiến tranh. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân một lần nữa nói lên thế chủ động của quân, dân ta và hiệu lực chiến lược tiến công của Đảng ta; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các nước xã hội chủ nghĩa, đoàn kết nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ để chống Mỹ xâm lược.

5. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là thắng lợi của cả hai miền Nam - Bắc, cả dân tộc Việt Nam với quyết tâm sắt đá giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

 

 

 Trong những ngày Xuân Mậu Thân, cả miền Nam là một vườn hoa nở rộ lòng yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, được hun đúc từ hàng ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm, kết hợp với tinh thần cách mạng triệt để và được sự giáo dục của Bác Hồ kính yêu.

Đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng và các thành phố, thị xã miền Nam đều bừng lên lòng yêu nước và hừng hực khí thế đấu tranh chống Mỹ xâm lược. Hàng ngàn gia đình gửi con em đi theo bộ đội để góp phần chiến đấu và phục vụ chiến đấu.Hàng vạn gia đình tham gia nuôi giấu cán bộ, bộ đội, cất giấu vũ khí ở nội thành, cung cấp tin tức và dẫn đường cho bộ đội đánh giặc, tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội, tham gia vận chuyển, cứu chữa, chăm sóc  thương binh ... Biết bao gia đình đau khổ vì con em bị địch bắt đi lính càm súng cho Mỹ, đã căn dặn con em đừng gây tội ác với nhân dân, giúp đỡ, tạo điều kiện cho con em trốn đi lính hoặc đào ngũ. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đâu đâu cũng xuất hiện những tấm gương về tinh thần dũng cảm khắc phục khó khăn, xả thân vì nước, tinh thần cách mạng tiến công, quyết tâm chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Dù ở nông thôn hay thành thị, đồng bằng hay miền núi; ở mặt trận quân sự hay chính trị, binh vận, nơi nào cũng có đủ mặt con em gồm các dân tộc, các giới  thuộc tất cả các tỉnh, thành phố trên mọi miền của đất nước Việt Nam anh hùng.

Phối hợp với miền Nam, cổ vũ và chia lửa với miền Nam, cả miền Bắc bừng bừng khí thế lao động sản xuất và chiến đấu, dốc sức chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn. Để góp phần chiến thắng, biết bao con em các gia đình miền Bắc mang thương tích; biết bao cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống trên mảnh đất miền Nam ruột thịt, làm cho Bắc - Nam xương trộn cùng xương, máu hòa với máu. Mỗi công việc hoàn thành, mỗi giờ lao động, mỗi sản phẩm làm ra đều mang đậm nghĩa tình của hậu phương với tiền tuyến.

* *

B*

ốn mươi năm đã qua kể từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - 1968 lịch sử và gần 33 năm kể từ ngày nhân dân ta toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (30-4-1975). Đến nay, ý nghĩa của chiến thắng Tết Mậu Thân vẫn còn mang tính thời sự đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta trong thời kỳ mới. Đó là lòng yêu nước nồng nàn và khát vọng về nền độc lập, tự do của Tổ quốc, nền hòa bình bền vững cho đất nước hôm nay và mai sau; là lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh; là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối và chỉ đạo chiến lược; là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung giữa ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia trên tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, vì lợi ích của nhân dân ba nước.

Kỷ niệm 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phát huy hơn nữa tinh thần cách mạng, ý chí tiến công, đoàn kết nhất trí, cả nước một lòng, nắm vững thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ 10 của Đảng, tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

NHƯ KIM

(Tổng hợp)