Tập đoàn, tổng Công ty Nhà nước- Chủ đạo, nòng cốt nhưng còn ngổn ngang
Không phủ nhận vai trò chủ đạo, nòng cốt của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, nhưng các đại biểu Quốc hội đều cho rằng vẫn còn nhiều ngổn ngang, bất cập, cần có sự điều chỉnh để mang lại hiệu quả lớn hơn.
Những vấn đề của tập đoàn, tổng công ty Nhà nước mà thời gian qua dư luận bức xúc được đặt lên bàn nghị sự của Quốc hội, được công bố công khai tới toàn thể nhân dân chứng tỏ tinh thần đổi mới của Quốc hội cùng quyết tâm khắc phục hạn chế trong hoạt động của tập đoàn, tổng công ty Nhà nước.
Vốn lớn, đóng góp lớn
Tính đến hết năm 2008, tổng nguồn vốn của 90 tập đoàn, tổng công ty lên tới 1 triệu 241 nghìn tỷ đồng. Các đơn vị này đang chứng tỏ quy mô khá lớn về vốn, tài sản và vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế Nhà nước, hoạt động luôn song hành cùng tiến trình phát triển kinh tế của đất nước. Chỉ tính riêng trong năm 2008, khối doanh nghiệp Nhà nước mà nòng cốt là các tập đoàn, tổng công ty đóng góp gần 40% giá trị GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản xuất công nghiệp, hơn 50% kim ngạch xuất khẩu và 28,8% tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu).
Các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước cũng đi đầu trong thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về giải quyết công ăn việc làm, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, đền ơn, đáp nghĩa và thực hiện nhiệm vụ xã hội. Phạm vi hoạt động được mở rộng đến các địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có hạ tầng cơ sở còn yếu kém để thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội. Đa số các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước kinh doanh có lãi; các chỉ tiêu nhìn chung tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước, nhưng mức độ khác nhau, có nơi đạt hiệu quả cao, có đơn vị thấp, nhưng tổng thể, vai trò của tập đoàn, tổng công ty Nhà nước trong thời gian qua là hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Vẫn ngổn ngang trăm mối
Mặc dù vậy, hoạt động của các tập đoàn, tổng Công ty Nhà nước đang bộc lộ nhiều bất cập. 25,2% số đơn vị báo cáo có mức lợi nhuận âm hoặc dưới 5% và 47,2% số đơn vị báo cáo có mức lợi nhuận dưới 10%. Qua đó cho thấy một tỷ lệ không nhỏ (45,05%) tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước hoạt động hiệu quả thấp (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10%), làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của khu vực kinh tế Nhà nước.
Bên cạnh đó, một số tổng công ty hoạt động sản xuất, kinh doanh thua lỗ. Tính đến cuối năm 2008 còn 23 đơn vị có lỗ lũy kế với tổng số tiền 2.797 tỷ đồng. Một số Tổng công ty lỗ phát sinh ở đơn vị thành viên gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh chung như: năm 2008, Tổng công ty lắp máy có lỗ phát sinh 68,75 tỷ đồng, Tổng công ty Xây dựng CTGT 4 lỗ phát sinh 52,52 tỷ đồng, Tập đoàn Dệt may Việt Nam lỗ phát sinh 27,98 tỷ đồng..., thậm chí Tổng công ty xây dựng đường thủy có tới 7 trong số 8 đơn vị thành viên hạch toán độc lập chưa cổ phần hóa bị lỗ làm mất toàn bộ vốn chủ sở hữu của Tổng công ty. Một số Tổng công ty hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc biệt khó khăn, không khắc phục triệt để và dứt điểm được tình trạng lỗ lũy kế từ các năm trước, tiếp tục để phát sinh lỗ, khả năng thanh toán hạn chế, vốn Nhà nước mất dần, nếu không có giải pháp sắp xếp, đổi mới triệt để thì phải làm thủ tục phá sản.
Ngoài ra, nếu phân tích một cách chi tiết, bóc tách và so sánh với các loại hình doanh nghiệp khác như các doanh nghiệp ngoài Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp Nhà nước nói chung, tại các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước nói riêng còn thấp, chưa tương xứng với quy mô, nguồn lực tài chính của Nhà nước, vị trí và vai trò trong nền kinh tế. Có không ít đơn vị, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, chủ yếu nhờ vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng, cơ cấu tài chính không hợp lý, dễ phát sinh rủi ro về cân đối dòng tiền, nợ phải trả cao gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu, khả năng thanh toán không bảo đảm, ảnh hưởng đến tính ổn định và phát triển của doanh nghiệp. Năm 2008 có 31 tập đoàn, tổng công ty hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng 3 lần, chiếm tỷ lệ 32% tổng số. 7 tập đoàn đến hết năm 2008 có nợ quá hạn 4.168 tỷ đồng, chiếm 3,24% tổng dư nợ của các tập đoàn tại tổ chức tín dụng. Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt
Sớm có biện pháp khắc phục
Để khắc phục những yếu kém trong thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý vốn, tài sản Nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty, các đại biểu Quốc hội kiến nghị thời gian tới, ngoài việc tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung ban hành mới các văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách có liên quan, cần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung giám sát chặt chẽ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty. Cụ thể là cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về vốn và tài sản tại tập đoàn, tổng công ty; tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng thực hiện các quyền chủ sở hữu; tổ chức rà soát đánh giá hoạt động của tập đoàn, tổng công ty để có biện pháp chấn chỉnh, củng cố các đơn vị gặp khó khăn hoặc hoạt động kém hiệu quả; đẩy nhanh hơn nữa tiến độ sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa tập đoàn, tổng công ty... Đồng thời với các biện pháp đó là xây dựng hệ thống kiểm tra, giám sát đủ năng lực và điều kiện về quản lý vốn, tài sản tại các tập đoàn, tổng công ty song song với tăng tính trách nhiệm của cơ quan quản lý, quy định rõ trách nhiệm của hội đồng quản trị, tổng giám đốc về hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tổ chức và mô hình hoạt động của tập đoàn kinh tế, xây dựng thị trường kinh doanh lành mạnh theo nguyên tắc trước mắt giảm tối đa tính độc quyền của tập đoàn, tổng công ty.
Hồng Thanh