Tạo cơ sở pháp lý quan trọng để chủ động phòng ngừa, xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
Sáng 19/6, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức Hội nghị phản biện xã hội đối với hồ sơ dự án Luật phòng, chống phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt. Thượng tướng Bế Xuân Trường - Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam - chủ trì Hội nghị.
Phát biểu khai mạc, Thượng tướng Bế Xuân Trường nhấn mạnh, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa đến hòa bình, an ninh và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, việc xây dựng dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt là hết sức cần thiết.
Đây là dự án luật có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực, ngành nghề và cơ quan chức năng khác nhau nên cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các Bộ, ngành trong quá trình xây dựng cũng như tổ chức thực hiện sau khi luật được ban hành.
Việc xây dựng một đạo luật đầy đủ, thống nhất và khả thi sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi liên quan đến phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam nhấn mạnh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của những người đã từng trải qua các cuộc kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong thực tiễn chiến đấu và công tác, nhiều cựu chiến binh đã trực tiếp tiếp xúc, chứng kiến hậu quả nặng nề của các loại vũ khí có sức hủy diệt lớn, đặc biệt là các loại vũ khí hóa học, sinh học. Vì vậy, các cấp Hội và hội viên Cựu chiến binh luôn dành sự quan tâm sâu sắc đối với lĩnh vực này, đồng thời nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật liên quan.
Phát biểu đề dẫn và những nội dung cơ bản của dự thảo Luật, Đại tá Bùi Hoàng Anh - Phó Cục trưởng Cục Pháp chế, Bộ Quốc phòng cho biết, ngày 18/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 130/NQ-CP thông qua 3 chính sách của dự án Luật, gồm hoàn thiện nguyên tắc phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt bảo đảm đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và điều ước quốc tế có liên quan; tăng cường biện pháp quản lý, kiểm soát đặc thù các hoạt động có nguy cơ dẫn đến phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; hoàn thiện cơ chế tổ chức thực thi, nguồn lực phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Về bố cục, dự thảo Luật được thiết kế gồm 4 chương, 39 điều, bám sát 3 chính sách đã được Chính phủ thông qua. Đại tá Bùi Hoàng Anh nhấn mạnh, quán triệt chủ trương đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị; Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật và quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, dự án Luật được xây dựng theo định hướng luật khung, luật nguyên tắc, chỉ quy định những vấn đề có tính nền tảng, ổn định lâu dài thuộc thẩm quyền của Quốc hội; không luật hóa các nội dung kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên sâu, thường xuyên biến động; không thiết lập cơ chế cấp phép, khai báo, kiểm tra, thanh tra độc lập trùng lặp với pháp luật chuyên ngành.
Cách tiếp cận xuyên suốt của dự thảo Luật là quản lý dựa trên rủi ro, kiểm soát đúng trọng tâm, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền; bảo đảm vừa có công cụ pháp lý để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn nguy cơ phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp.
Phát biểu tại Hội nghị, các đại biểu nhấn mạnh, thời gian qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột vũ trang, khủng bố, an ninh mạng, an ninh phi truyền thống và các nguy cơ từ công nghệ mới tác động sâu sắc đến môi trường an ninh quốc tế.
Trong bối cảnh đó, nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt không chỉ gắn với chiến tranh, xung đột hoặc hoạt động của chủ thể nhà nước, mà còn có thể phát sinh thông qua thương mại, đầu tư, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, vận chuyển, quá cảnh, trung chuyển hàng hóa, giao dịch tài chính, ngân hàng.
Đáng chú ý, nhiều loại vật liệu, thiết bị, phần mềm, công nghệ, dữ liệu kỹ thuật có tính lưỡng dụng, vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa có thể bị lợi dụng cho mục đích phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt nếu không được nhận diện, quản lý, cảnh báo và kiểm soát phù hợp.
Bên cạnh yêu cầu thực tiễn trong nước, việc xây dựng dự án Luật còn xuất phát từ yêu cầu thực hiện các cam kết, nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam.
Do đó, việc xây dựng dự án Luật là hết sức cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ để Nhà nước chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ phổ biến và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; đồng thời thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong thực hiện các điều ước quốc tế, nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cam kết quốc tế có liên quan.
Khẳng định đây là vấn đề mới, khó, các đại biểu cũng đánh giá cao Cơ quan soạn thảo đã rất nghiêm túc, công phu chuẩn bị hồ sơ dự án Luật cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.
Một số ý kiến phát biểu đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định xác định rõ Bộ Quốc phòng là cơ quan chủ trì trong công tác phòng ngừa, phát hiện và ứng phó với các nguy cơ liên quan đến phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; đồng thời làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia thực hiện để tránh chồng chéo hoặc bỏ sót trách nhiệm.
Các đại biểu cũng đề nghị tiếp tục rà soát, làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ, ngành liên quan trong cơ chế phối hợp liên ngành; bổ sung quy định về trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động nhân dân tham gia phòng ngừa, phát hiện các hành vi liên quan đến phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Một số ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát các quy định tại dự thảo Luật để đảm bảo tính khả thi; hài hoà giữa yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ quyền con người, nâng cao tính minh bạch, khả năng dự báo…