Tăng việc, tăng thẩm quyền…khi đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở thiếu, yếu chuyên môn

Từ ngày 1-4-2006, Nghị định 158/NĐ-CP, ban hành ngày 27-12-2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch có hiệu lực thi hành, tạo bước chuyển biến lớn trong lĩnh vực này, tạo thuận lợi cho công dân, đồng thời là công cụ quan trọng giúp chính quyền các cấp theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế- xã hội, quốc phòng- an ninh và dân số, kế hoạch hóa gia đình. Sau hơn 4 tháng triển khai thực hiện, đang phát sinh những vướng mắc, hạn chế về con người thực thi, về thể thức văn bản.

Rắc rối chung quanh tờ giấy khai sinh

Theo Nghị định, UBND các xã, phường, thị trấn thực hiện việc cấp lại giấy khai sinh cho công dân khi có yêu cầu. Nhưng khi tiếp nhận giấy khai sinh, nếu như thống nhất ngày, tháng, năm sinh với các loại giấy tờ khác lưu trong hồ sơ thì thuận lợi, còn nếu không thì loại giấy tờ đó sẽ bị “nghi ngờ” tính hợp pháp. Theo ông Đào Huy Cảnh, cán bộ tư pháp xã An Đồng (huyện An Dương) có hai điều phân vân: Đó là việc cấp giấy khai sinh quá hạn cho công dân, nhưng không được ghi “đăng ký quá hạn”, tạo sự nghi ngờ của những cơ quan, tổ chức khi giải quyết công việc tiếp nhận loại giấy tờ này. Vừa qua, một công dân trong xã 73 tuổi có nhu cầu xuất cảnh ra nước ngoài thăm con, đến đăng ký khai sinh, được UBND xã cấp giấy khai sinh lần đầu theo trình tự đăng ký quá hạn, nhưng không thể hiện được trong giấy khai sinh. Một số cơ quan tiếp nhận giấy tờ tỏ ý nghi ngờ tính pháp lý của loại giấy tờ này. Điều thứ hai là khi bố hoặc mẹ làm khai sinh cho con phải xuất trình giấy chứng sinh của bệnh viện và theo quy định được lưu tại UBND xã; nhưng sau đó, một số trường hợp đến xin lại giấy chứng sinh để thanh toán chế độ bảo hiểm y tế cho người mẹ khi sinh con. Từ sự không thống nhất giữa các cơ quan nhà nước khi sử dụng, quản lý giấy tờ, văn bản, công dân cho rằng cơ quan nhà nước gây phiền hà, chưa thực sự phục vụ nhân dân.

Một số cơ quan, đơn vị cũng cho rằng việc cấp lại giấy khai sinh là không đúng, bởi chưa … được phổ biến, tuyên truyền các quy định mới về quản lý hộ tịch. Mới đây, ông C. ở xã Tân Hưng (huyện Vĩnh Bảo) trải qua nhiều năm công tác, qua nhiều cơ quan, hồ sơ cán bộ không thống nhất về ngày, tháng, năm sinh. Theo yêu cầu của cơ quan chủ quản, ông C. đến làm thủ tục và được UBND xã đăng ký khai sinh lại theo đúng quy định, nhưng không được cơ quan chủ quản chấp nhận… vì cho rằng, giấy khai sinh này là không hợp pháp, mà phải có xác nhận thêm của Sở Tư pháp thành phố (?). Thế là lại thêm một “công đoạn” mới phát sinh không có trong quy định. Vấn đề tưởng chừng đơn giản, nay lại thêm phức tạp, bởi Nghị định 158/NĐ-CP mới được phổ biến tuyên truyền chủ yếu đến các cán bộ tư pháp, chứ chưa đến được với đông đảo người dân và các cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, sự nghi ngờ của cơ quan, đơn vị đối với giấy khai sinh cấp lại cũng có cơ sở, vì lý do “tế nhị” trong cuộc sống, mà UBND xã, phường, thị trấn cấp lại giấy khai sinh không đúng với các giấy tờ, hồ sơ khác có liên quan. Đến lúc này, phải sửa hàng loạt các giấy tờ, hồ sơ theo giấy khai sinh xem ra không phải dễ. Theo ý kiến của cơ quan tư pháp, đáng lẽ, cơ quan ông C. cần có công văn đề nghị cơ quan chuyên môn xem xét, khẳng định tính hợp pháp và tính có căn cứ của giấy khai sinh cấp lại, làm cơ sở hoàn thiện hồ sơ cán bộ, giảm những phiền hà không đáng có.

Theo quy định tại Nghị định, khi công dân đến cơ quan chức năng đề nghị cải chính hộ tịch, phải xuất trình bản chính giấy khai sinh. Trong khi đó, theo hướng dẫn thì khi cấp lại bản chính giấy khai sinh, cơ quan chức năng căn cứ từ sổ gốc về hộ tịch (vẫn mang một số yếu tố sai, như ngày, tháng, năm sinh, tên đệm), sau đó ra tiếp một quyết định ghi bổ sung, đính chính ở trang sau giấy khai sinh. Công dân được cấp lại bản chính giấy khai sinh (mới), nhưng các nội dung thông tin về cá nhân chưa chính xác lại được ghi ở trang 1, còn nội dung cải sửa, chính xác lại ghi ở trang 2. Kiểu thể thức văn bản trên làm người được cấp lại giấy khai sinh cũng như cơ quan tiếp nhận thực sự không “hài lòng”, thiếu niềm tin khi văn bản cá nhân sửa chữa bổ sung nhiều chỗ. Từ thực tế cho thấy, nếu như thông tin bổ sung, thay đổi về hộ tịch được ghi ngay từ sổ gốc, sau đó cơ quan chức năng căn cứ vào đó cấp lại bản chính giấy khai sinh thì phù hợp hơn, hiệu quả hơn.

Theo quy định hiện nay, mỗi khi cải chính hộ tịch cho công dân, cơ quan chức năng phải 5 lần đóng dấu quyền lực vào các loại giấy tờ, sổ sách. Đó là đóng dấu vào bản cấp lại, ra quyết định cấp lại, ghi chú vào bản chính, ban hành một thông báo… vừa mất thời gian trong giải quyết công việc, vừa làm chậm tiến trình cải cách hành chính, cũng làm công dân chờ đợi. Tại mục quy định đăng ký khai sinh cho trẻ em của Nghị định 158: Nếu cán bộ tư pháp- hộ tịch “biết rõ” về quan hệ hôn nhân, thì không bắt buộc người đi đăng ký khai sinh phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn. Vấn đề mấu chốt là làm thế nào “biết rõ” thì chưa có hướng dẫn cụ thể. Nếu đương sự quan hệ tốt, thì cán bộ tư pháp cho rằng đã “biết rõ” và thực hiện việc khai sinh, còn không thì là chưa “biết rõ” hoặc không có trả lời cụ thể.

Một vấn đề nữa, gây chậm trễ không đáng có trong quá trình cải cách hành chính khi thực hiện Nghị định 158 của Chính phủ là theo quy định, thẩm quyền ký các văn bản về hộ tịch mà Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã trình lên do Chủ tịch UBND cấp huyện, quận, thị xã, mà chưa có quy định ủy quyền, nên công việc thường bị kéo dài, chậm trễ. Bởi lẽ ai cũng hiểu, Chủ tịch UBND cấp huyện quá nhiều việc, còn phải ký nhiều loại văn bản khác, nên không thể bảo đảm thời gian ký các văn bản về hộ tịch là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên, ở quận Hải An thì Phó Chủ tịch UBND quận lại được ủy quyền ký các loại giấy tờ trên, giải quyết kịp thời các nhu cầu của công dân, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, nhưng xem ra chưa ổn… vì pháp luật chưa quy định. Đây là một trong những ví dụ điển hình trong việc áp dụng pháp luật không thống nhất cần sớm được quan tâm, khắc phục trên địa bàn thành phố. Do vậy, ngành Tư pháp tham mưu với Chính phủ sớm bổ sung quy định cho phép Chủ tịch UBND huyện ủy quyền cho các Phó Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc Trưởng phòng Tư pháp thực hiện một số công việc thường ngày về công tác này.

 

Nghị định 158/NĐ-CP của Chính phủ có 9 chương với 99 điều, trong đó có các quy định chủ yếu về đăng ký hộ tịch bao gồm đăng ký khai sinh; kết hôn; khai tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch,  xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch; ghi vào sổ hộ tịch và các thay đổi khác; đăng ký quá hạn đăng ký lại; đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch, cấp lại bản chính giấy khai sinh; giấy xác nhận tình trạng hôn nhân...

 

 

(Còn tiếp)