Tăng trưởng và kiềm chế lạm phát: Thận trọng trong lựa chọn chính sách

Tính đến hết quý 1, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tăng 4,12%. Với nhiệm vụ cả năm kiềm chế lạm phát ở mức 7%, đây là sức ép lớn với những tháng cuối năm bởi trong thời gian này bình quân CPI phải giữ được ở mức 0,03%/tháng. Ghìm lạm phát cả năm ở mức 7% đã là nhiệm vụ khó, cùng lúc phải đạt mức tăng trưởng 6,5% còn khó hơn.

Tính đến hết quý 1, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tăng 4,12%. Với nhiệm vụ cả năm kiềm chế lạm phát ở mức 7%, đây là sức ép lớn với những tháng cuối năm bởi trong thời gian này bình quân CPI phải giữ được ở mức 0,03%/tháng. Ghìm lạm phát cả năm ở mức 7% đã là nhiệm vụ khó, cùng lúc phải đạt mức tăng trưởng 6,5% còn khó hơn.

Nhiều yếu tố tác động tới CPI quý 2
“Từ tháng 4 này có nhiều yếu tố tác động đến giá tiêu dùng”, Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia NCEIF (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đưa ra cảnh báo như vậy.
Theo phân tích của NCEIF, năm 2009, Việt Nam tăng trưởng tín dụng 38% để đạt được mức tăng trưởng GDP 5,32%, tổng phương tiện thanh toán vượt mức tăng 25% trong so sánh cuối năm và đầu năm. Chênh lệch giữa tổng phương tiện M2 và tăng trưởng GDP thực tế cho thấy lượng hàng hoá sản xuất ra chưa tương xứng với lượng tiền lớn được đưa vào lưu thông. Tác động trễ thông thường từ 4-6 tháng của mức tăng tín dụng cao (gấp 7 lần mức tăng GDP) trong năm 2009 sẽ bộc lộ dần trong quý 2-2010.
Năm 2010, Việt Nam tiếp tục chính sách nới lỏng tín dụng linh hoạt để duy trì mức tăng trưởng kinh tế không dưới 6,5% theo kế hoạch đặt ra như một điều kiện bảo đảm ổn định xã hội. “Bên cạnh đó, việc hiệu quả đầu tư xã hội thấp và khó có thể cải thiện trong năm 2010 đã tạo sức ép nới lỏng điều kiện tín dụng của các ngân hàng, do đó làm tăng nguy cơ bùng nổ lượng tiền vào lưu thông với tư cách là các luồng vốn kích cầu đầu tư, từ đó trực tiếp làm tăng áp lực lạm phát”- TS Lê Đình Ân, giám đốc NCEIF lưu ý. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước ban hành thông tư quy định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND thêm 603 đồng kể từ ngày 11-2-2010, tăng thêm 3,3% so với tỷ giá ngày trước đó. Ngoài những tác động tích cực, sự điều chỉnh tỷ giá này có thể ít nhiều làm tăng giá của hàng hoá và nguyên liệu nhập khẩu, do đó làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá.
Một nhân tố quan trọng nữa tác động không nhỏ đến CPI của quý 2 là việc giá một số nguyên, nhiên liệu đầu vào chủ chốt đang tăng lên (như xăng, điện…). Sự cộng hưởng tác động đồng thời của việc tăng giá xăng, điện, than, nước, cước vận tải các loại… và tăng lương khiến giá hàng hoá và dịch vụ có liên quan trực tiếp và gián tiếp sẽ tăng do phải chịu ảnh hưởng của các yếu tố tăng giá đầu vào và do tác động nhiều vòng. “Yếu tố tâm lý sẽ khiến tác động này bị khuếch đại lên vài lần, tạo ra làn sóng tăng giá trên thị trường và dẫn đến thiết lập mặt bằng giá mới”- TS Ân nói.
Cùng với các nhân tố trong nước kể trên tác động đến CPI, sự phục hồi của kinh tế thế giới cũng có tác động không nhỏ đến sự gia tăng CPI. Sự hồi phục từng bước của kinh tế thế giới kéo theo sự gia tăng hoạt động tiêu thụ hàng hóa, nguyên liệu. Xu thế tăng giá của nhiều loại hàng hoá, vật tư trên thị trường thế giới năm 2010 và một số năm tiếp theo sau khủng hoảng gần như là chắc chắn, ví dụ sự tăng giá của dầu thô kéo theo giá xăng, phân bón, thuốc trừ sâu và các nguyên liệu khác tăng theo, tạo áp lực tăng giá các hàng hóa và dịch vụ, đưa mặt bằng giá trong nước lên mức cao hơn.
Dự báo CPI quý 2 tăng khoảng 4,47% so với tháng 12-2009.

Tăng trưởng và kiềm chế lạm phát: Thận trọng trong lựa chọn chính sách

Nhân viên kho quỹ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam (Chi nhánh Hải Phòng) kiểm đếm tiền. 

                                                                      Ảnh: Duy Thính

Thận trọng, phương án tối ưu
Ghìm lạm phát cả năm ở mức 7% đã là nhiệm vụ khó, cùng lúc phải đạt mức tăng trưởng 6,5% còn khó hơn trong khi kinh tế vĩ mô vẫn còn tiềm ẩn một số yếu tố rủi ro. Ông Phạm Ngọc Tuyến, Phó viện trưởng Viện Khoa học tài chính đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp chính sách. Theo đó, nếu kinh tế thế giới phục hồi mạnh mẽ, các dòng vốn vào Việt Nam tăng mạnh đủ bù đắp thâm hụt và kiềm chế kỳ vọng VND mất giá. Việt Nam nhiều khả năng sẽ đạt được tăng trưởng cao và lạm phát thấp thông qua những chính sách tài chính và tiền tệ thận trọng. Tuy nhiên, nếu các dòng vốn vào Việt Nam không đáp ứng được các yêu cầu trên, Việt Nam chỉ có thể đạt được ổn định vĩ mô vững chắc nếu thi hành các biện pháp tài chính, tiền tệ thắt chặt để giảm tỷ lệ đầu tư, từ đó giảm nhập siêu và lạm phát. Trong trường hợp này, Việt Nam phải trả giá bằng tăng trưởng thấp trong ngắn hạn. Còn nếu Việt Nam vẫn theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao bằng các chính sách tài chính và tiền tệ mở rộng, những nguy cơ về rối loạn tài chính có thể khiến cả hai mục tiêu tăng trưởng và ổn định đều không đạt được.
Do vậy, phương án hợp lý hơn cả, theo TS Tuyến, là áp dụng chính sách tiền tệ và tài chính thận trọng để ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng bằng các chính sách khác như cải cách thể chế, giảm thủ tục hành chính, chuyển dịch cơ cấu đầu tư, cơ cấu chi ngân sách..., tức là những chính sách tái cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng về chất và không làm tăng tổng cầu.
Vụ trưởng Vụ Thống kê tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê) Bùi Bá Cường cho rằng dường như, ở thời điểm này, tăng trưởng GDP vẫn được coi trọng hơn còn vấn đề kiềm chế lạm phát chưa được quan tâm thực sự, dù ai cũng nói đến nỗi lo lạm phát. Ông tỏ ý lo lắng trước những ý kiến về trần lãi suất, theo ông “Nếu bỏ trần lãi suất thì rất gay, lạm phát cao sẽ trở lại”.
Tuy nhiên, ông Tuyến lưu ý “nên tiến tới bỏ cơ chế trần lãi suất”. Bởi lẽ chính sách cho phép các tổ chức tín dụng cho vay theo lãi suất thỏa thuận nhưng lại không cho phép các ngân hàng huy động vốn theo lãi suất thỏa thuận có thể tạo ra sự “không công bằng” với người gửi tiền khi có những biến động mạnh về lãi suất theo hướng gia tăng. Chính sách này cũng có thể tạo nên tình trạng khan hiếm tiền gửi và khiến tình trạng đầu cơ vào các tài sản khác (không phải tiền gửi) gia tăng khi lãi suất cơ bản vẫn ở mức thấp.
                                                                                                                                                Nguyễn Huyền