Tăng trưởng 2 con số và khát vọng đưa Thủ đô bứt phá trong giai đoạn mới - Bài 3: Hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân cần chung tay
Tiềm năng tăng trưởng của Hà Nội là rất lớn, song dư địa sẽ khó được khai mở nếu các “điểm nghẽn” về cơ chế, thủ tục và nguồn lực chưa được xử lý đồng bộ. Đặc biệt, trao đổi với Báo Pháp luật Việt Nam, TS Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) TP Hà Nội, Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế và DN cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, cần sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng DN và người dân Thủ đô.
Từng bước xóa bỏ cơ chế “xin - cho”
Theo nhận xét của ông, cộng đồng DNNVV Hà Nội cảm nhận như thế nào về quyết tâm điều hành của Chính phủ và TP Hà Nội trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thời gian qua?
- Từ góc độ cộng đồng DNNVV, chúng tôi cảm nhận rất rõ quyết tâm chính trị, tinh thần hành động và áp lực đổi mới trong công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ cũng như TP Hà Nội trong suốt thời gian qua.
Điểm đáng ghi nhận trước hết là mục tiêu tăng trưởng không chỉ được đặt ra bằng những con số có tính định hướng, mà đã được cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị. Hà Nội đang phấn đấu đạt mức tăng trưởng GRDP 11% trong năm 2026 - một mục tiêu rất cao, đòi hỏi toàn bộ hệ thống chính trị, cộng đồng DN và người dân phải cùng nỗ lực, cùng đổi mới và cùng hành động.
Kết quả 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy quyết tâm đó đã bước đầu chuyển hóa thành kết quả thực tế. GRDP của Hà Nội tăng 8,22% so với cùng kỳ; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt hơn 254,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,3%. Đặc biệt, TP đã giải ngân hơn 63 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt trên 52,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và cao hơn gấp đôi so với cùng kỳ. Gần 19.000 DN được thành lập mới, tăng 21% về số lượng và tăng 145% về vốn đăng ký. Đây là những tín hiệu tích cực, phản ánh niềm tin kinh doanh đang từng bước được củng cố.
Cộng đồng DN cũng đánh giá cao việc Chính phủ và TP chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, lấy người dân và DN làm trung tâm phục vụ. Tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đang dần được cụ thể hóa thông qua yêu cầu cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC), giảm chi phí tuân thủ, tăng cường hậu kiểm, thúc đẩy chuyển đổi số (CĐS) và từng bước xóa bỏ cơ chế “xin - cho” trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Một điểm rất đáng ghi nhận nữa là lãnh đạo Hà Nội đã chủ động tổ chức đối thoại chuyên sâu với cộng đồng DNNVV, trực tiếp lắng nghe các vấn đề về vốn, đất đai, thuế, đầu tư, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy và CĐS. TP không né tránh những tồn tại mà thẳng thắn nhận trách nhiệm, yêu cầu các cơ quan liên quan phản hồi kiến nghị của DN trong thời hạn tối đa 30 ngày. Đây là biểu hiện cụ thể của một chính quyền cầu thị, hành động và có trách nhiệm.
Theo ông, những chính sách hỗ trợ DN nào đang phát huy hiệu quả, góp phần tạo động lực để DN mở rộng sản xuất, kinh doanh và đầu tư?
- Theo tôi, nhóm chính sách đang tạo tác động tích cực nhất là các chính sách cải thiện môi trường đầu tư, cải cách TTHC, thúc đẩy CĐS, hỗ trợ đổi mới sáng tạo (ĐMST) và kết nối thị trường.
Trước hết, việc đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến và vận hành mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công đã góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, giảm tiếp xúc trực tiếp và từng bước rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ. Dù vẫn còn một số lỗi kỹ thuật và sự thiếu đồng bộ ở một số thủ tục, nhưng đây là hướng đi đúng và cần tiếp tục được hoàn thiện theo nguyên tắc DN chỉ cung cấp thông tin một lần, cơ quan nhà nước có trách nhiệm chia sẻ và khai thác dữ liệu đã có.
Thứ hai, Đề án hỗ trợ DNNVV TP Hà Nội giai đoạn 2026 - 2030 là một chính sách có phạm vi tương đối toàn diện. Đề án đặt mục tiêu hỗ trợ trực tiếp tối thiểu 5.000 DN mỗi năm, hỗ trợ gián tiếp khoảng 40.000 DN; đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 15.000 lượt nhân lực và 1.000 giám đốc điều hành mỗi năm. Nếu được triển khai đúng đối tượng, đo lường bằng hiệu quả đầu ra và hạn chế tối đa thủ tục xin hỗ trợ, Đề án sẽ trở thành một trong những công cụ quan trọng nâng cao chất lượng khu vực DNNVV của Thủ đô.
Thứ ba, Kế hoạch CĐS DNNVV giai đoạn 2026 - 2030 của Hà Nội đã tiếp cận tương đối sát nhu cầu thực tế. TP đặt mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ ít nhất 120.000 DNNVV và hình thành nhóm 50 DN CĐS tiêu biểu. DN có thể được hỗ trợ đánh giá mức độ sẵn sàng, tư vấn kỹ thuật, thử nghiệm giải pháp, thuê hoặc mua sản phẩm CĐS, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và đào tạo nguồn nhân lực số. Thứ tư, chính sách đẩy nhanh đầu tư công đang tạo ra hiệu ứng lan tỏa đối với các ngành xây dựng, vật liệu, vận tải, thương mại, dịch vụ và công nghiệp hỗ trợ. Khi các dự án cầu, đường và hạ tầng đô thị được triển khai nhanh, DN không chỉ có thêm cơ hội tham gia cung ứng mà còn được hưởng lợi từ việc giảm thời gian vận chuyển, mở rộng không gian sản xuất và nâng cao khả năng kết nối thị trường. Cuối cùng phải kể đến các hoạt động đối thoại, xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu, hỗ trợ khai thác các hiệp định thương mại tự do và kết nối DN trong nước với các tập đoàn, DN FDI đã giúp một bộ phận DNNVV từng bước mở rộng thị trường.
Phải dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ
Trong quá trình hoạt động, DNNVV đã gặp những khó khăn, vướng mắc nào cần tiếp tục được tháo gỡ để đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng kinh tế của Thủ đô, thưa TS?
- Khó khăn lớn nhất hiện nay của DNNVV là khả năng tiếp cận và hấp thụ các nguồn lực phát triển còn hạn chế, trong khi sức ép về chi phí, công nghệ, thị trường và tiêu chuẩn kinh doanh ngày càng gia tăng.
Thứ nhất là bài toán vốn: Phần lớn DNNVV có quy mô tài sản nhỏ, thiếu tài sản bảo đảm, hệ thống quản trị tài chính chưa hoàn chỉnh và khó đáp ứng đầy đủ các tiêu chí tín dụng truyền thống. Nhiều doanh nghiệp có đơn hàng và phương án sản xuất khả thi nhưng vẫn khó vay vốn trung, dài hạn. Cơ chế bảo lãnh tín dụng chưa phát huy đầy đủ vai trò, trong khi các hình thức cấp tín dụng dựa trên dòng tiền, hợp đồng, hóa đơn, dữ liệu bán hàng và tài sản trí tuệ còn chưa phổ biến.
Thứ hai là đất đai và mặt bằng sản xuất: Giá thuê mặt bằng cao, quỹ đất trong khu, cụm công nghiệp còn hạn chế, thủ tục thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và mở rộng nhà xưởng còn mất nhiều thời gian… Thứ ba, TTHC ở một số lĩnh vực còn chồng chéo và chưa thực sự liên thông. Thứ tư, chi phí đầu vào và sức ép thị trường: Giá nguyên, nhiên liệu, logistics, mặt bằng, tiền lương và chi phí tuân thủ đều có xu hướng tăng. Trong khi đó, khả năng chuyển phần chi phí tăng thêm vào giá bán của DNNVV rất hạn chế. Hoạt động xuất khẩu cũng chịu ảnh hưởng từ biến động địa chính trị, hàng rào kỹ thuật và yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, phát thải, môi trường và trách nhiệm xã hội.
Thứ năm, là khoảng cách về công nghệ, quản trị và nhân lực: Nhiều DN nhận thức được sự cần thiết của CĐS và trí tuệ nhân tạo nhưng vẫn gặp “ba thiếu”: Thiếu nguồn lực tài chính, thiếu nhân lực triển khai và thiếu một lộ trình phù hợp. Không ít DN mua phần mềm hoặc thiết bị nhưng chưa tái cấu trúc quy trình, dẫn đến đầu tư công nghệ chưa tạo ra năng suất tương xứng.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, theo ông, cộng đồng DN sẽ cần chủ động đổi mới như thế nào và mong muốn TP tiếp tục đồng hành ra sao?
- Muốn đạt tăng trưởng cao và bền vững, DN không thể chỉ chờ vào sự phục hồi của thị trường hay các gói hỗ trợ của Nhà nước. Chính DN phải là chủ thể đổi mới, chủ thể đầu tư và chủ thể kiến tạo động lực tăng trưởng mới.
Trước hết, DN cần đổi mới tư duy quản trị, chuyển từ kinh doanh theo kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, chiến lược và khả năng dự báo; phải minh bạch hóa tài chính, chuẩn hóa quy trình, kiểm soát dòng tiền, quản trị rủi ro và xây dựng phương án kinh doanh có khả năng thích ứng trước các biến động về thị trường, tỷ giá, năng lượng và chuỗi cung ứng. Cùng với đó, DNNVV phải coi khoa học, công nghệ, ĐMST, CĐS và trí tuệ nhân tạo là công cụ nâng cao năng suất, chứ không phải là phong trào. Đồng thời cũng phải chủ động chuyển đổi xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG, cũng như tăng cường liên kết các DN cùng nhau phát triển.
Về phía TP, cộng đồng DN mong muốn sự đồng hành tập trung vào 5 vấn đề then chốt. Một là, tiếp tục cải cách TTHC theo hướng “một việc - một đầu mối - một thời hạn - một người chịu trách nhiệm”; công khai tiến độ xử lý hồ sơ và thực hiện nguyên tắc im lặng của cơ quan hành chính không được trở thành chi phí của DN. Hai là, thiết kế các chương trình hỗ trợ theo nhu cầu và kết quả đầu ra. Ba là, khơi thông nguồn vốn cho khu vực DNNVV thông qua bảo lãnh tín dụng, tín dụng theo dòng tiền, đồng tài trợ các dự án đổi mới công nghệ, hỗ trợ lãi suất đối với dự án xanh và phát triển các kênh vốn ngoài ngân hàng.
Bốn là, dành không gian phát triển phù hợp cho DN sản xuất, công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp sáng tạo; công khai quy hoạch, quỹ đất, giá thuê và tiêu chí lựa chọn DN vào các khu, cụm công nghiệp. Năm là, sử dụng đầu tư công và mua sắm công như một công cụ tạo thị trường cho DN ĐMST…
Tôi cho rằng, để đạt tăng trưởng 2 con số, Hà Nội không chỉ cần thêm vốn đầu tư mà cần nâng cao hiệu quả sử dụng từng đồng vốn, từng mét vuông đất và từng giờ lao động. Tăng trưởng phải dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực ĐMST.
Trân trọng cảm ơn TS!

“Khi chính quyền thực sự kiến tạo, DN chủ động đổi mới và các nguồn lực xã hội được kết nối hiệu quả, cộng đồng DNNVV không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà sẽ trở thành lực lượng trực tiếp hiện thực hóa khát vọng xây dựng Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại, có sức cạnh tranh cao và phát triển bền vững!”.
(Còn tiếp)