Tăng tốc triển khai Nghị quyết 57, kiến tạo nền tảng tăng trưởng mới

Tăng tốc triển khai Nghị quyết 57, kiến tạo nền tảng tăng trưởng mới
Đà Nẵng tăng tốc chuyển đổi số, tạo động lực tăng trưởng từ Khu công nghệ cao (Ảnh minh họa: MST)

Sau hơn một năm quyết liệt triển khai, Nghị quyết 57-NQ/TW đang từng bước chuyển từ định hướng chiến lược sang hành động cụ thể. Từ hoàn thiện thể chế, phát triển doanh nghiệp công nghệ đến thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ đang được kỳ vọng trở thành động lực mới cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Định hình động lực tăng trưởng mới

Điểm đáng chú ý là quá trình triển khai không còn dừng ở tư duy ứng dụng công nghệ đơn thuần mà đang dịch chuyển sang xây dựng năng lực làm chủ công nghệ, phát triển công nghệ chiến lược và nâng cao nội lực quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng quyết liệt.

Chỉ riêng tháng 5/2026 ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong triển khai các nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết 57. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao trong quý I/2026 đạt 50,76%, phản ánh vai trò ngày càng lớn của khoa học và công nghệ trong cơ cấu tăng trưởng của nền kinh tế.

Trong khi đó, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tiếp tục nhận được đánh giá tích cực từ quốc tế. Theo Báo cáo Chỉ số Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu 2026 của StartupBlink, Việt Nam tăng 5 bậc, lên vị trí thứ 50 thế giới – mức xếp hạng cao nhất từ trước đến nay.

Phía sau các con số là sự thay đổi về tư duy phát triển. Nếu trước đây khoa học công nghệ thường được xem như công cụ hỗ trợ sản xuất thì hiện nay đang dần trở thành yếu tố tạo lập lợi thế cạnh tranh và dẫn dắt tăng trưởng.

Tại Hội thảo công bố Báo cáo tư vấn chính sách thường niên 2026 về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các chuyên gia cho rằng Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tìm kiếm động lực tăng trưởng mới trong bối cảnh dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp.

Năm 2025, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8,02%, thuộc nhóm cao trong khu vực châu Á; quy mô GDP ước đạt khoảng 514 tỷ USD; GDP bình quân đầu người vượt 5.000 USD. Tuy nhiên, để duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững trong trung và dài hạn, nền kinh tế cần chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, tri thức và công nghệ.

Theo các chuyên gia, yếu tố quyết định không chỉ là tiếp cận công nghệ mà là khả năng hấp thụ, làm chủ và tạo ra công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.

Doanh nghiệp - trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Một trong những điểm nổi bật trong triển khai Nghị quyết 57 là xác lập rõ vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Lũy kế đến hết tháng 5/2026, cả nước có 963 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; 20 sàn giao dịch khoa học và công nghệ; 37 trung tâm đổi mới sáng tạo tại 26/34 tỉnh, thành phố.

Đây không chỉ là những con số về số lượng mà phản ánh quá trình hình thành các thiết chế hỗ trợ chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và kết nối nguồn lực đổi mới sáng tạo.

Bước đi đáng chú ý gần đây là việc Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đề án đặt mục tiêu hình thành đội ngũ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực cạnh tranh quốc tế, làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo mục tiêu đặt ra, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có ít nhất 5.000 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu từ thị trường quốc tế; doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số đạt tối thiểu 55 tỷ USD mỗi năm; có 60 doanh nghiệp đạt doanh thu từ nước ngoài từ 20 triệu USD/năm và 5 doanh nghiệp đạt doanh thu tối thiểu 1 tỷ USD/năm.

Đặc biệt, Đề án nhấn mạnh ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu và phát triển các sản phẩm Make in Viet Nam dựa trên công nghệ lõi và công nghệ chiến lược.

Cùng với đó là thúc đẩy mô hình liên kết “3 nhà” -Nhà nước, viện/trường và doanh nghiệp - nhằm rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường.

Các đại biểu  Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam - Make in Vietnam 2025 (Ảnh: MST)
Các đại biểu Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam - Make in Vietnam 2025 (Ảnh: MST)

Chuyển đổi số tạo nền tảng cho phát triển

Song hành với đổi mới sáng tạo là quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trong tháng 5/2026 đạt 50,2%, cho thấy việc cung cấp dịch vụ công số đang tiếp tục được mở rộng.

Đáng chú ý hơn, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số năm 2025 ước đạt 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD. Con số này phản ánh kinh tế số đang từng bước trở thành khu vực đóng góp quan trọng vào tăng trưởng quốc gia.

Hạ tầng số tiếp tục duy trì đà phát triển nhanh. Tốc độ Internet băng rộng di động của Việt Nam đạt 207,3 Mbps, xếp thứ 11/104 quốc gia; tốc độ băng rộng cố định đạt 287,33 Mbps, đứng thứ 11/154 quốc gia.

Cả nước hiện có hơn 110,5 triệu thuê bao truy nhập Internet băng rộng di động; trong đó có khoảng 24,29 triệu thuê bao 5G và 25,62 triệu thuê bao Internet băng rộng cố định.

Những chỉ số này cho thấy Việt Nam đang dần hình thành nền tảng hạ tầng cần thiết để phát triển kinh tế số, xã hội số và chính phủ số.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức. Theo số liệu giám sát đến đầu tháng 6/2026, vẫn còn hàng chục nhiệm vụ triển khai Nghị quyết 57 bị quá hạn hoặc sắp đến hạn, tập trung vào các điểm nghẽn như nền tảng số dùng chung, quản trị dữ liệu và kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia.

Điều này cho thấy chuyển đổi số không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn đòi hỏi thay đổi mô hình quản trị, chuẩn hóa dữ liệu và đổi mới phương thức vận hành.

Một điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai Nghị quyết 57 là sự lan tỏa từ trung ương tới địa phương. Nhiều địa phương đã xây dựng chương trình hành động riêng với định hướng phát triển nhân lực số, hạ tầng số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phù hợp điều kiện thực tế.

Đơn cử, tại Quảng Ngãi, kế hoạch thực hiện Nghị quyết 57 đặt mục tiêu tạo bước chuyển mạnh về năng lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, hướng tới nâng cao năng lực nội sinh và sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.

Địa phương này xác định nhiều chính sách mang tính đột phá như thu hút chuyên gia công nghệ cao, xây dựng cơ chế hỗ trợ thử nghiệm công nghệ mới và nghiên cứu cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với các hoạt động đổi mới sáng tạo phát sinh rủi ro khách quan.

Đây được xem là cách tiếp cận mới, thể hiện tinh thần chấp nhận rủi ro để đổi mới, một yếu tố được nhiều quốc gia phát triển coi là điều kiện tiên quyết để hình thành hệ sinh thái sáng tạo.

Đến nay, Quảng Ngãi đã thành lập hơn 1.400 tổ công nghệ số cộng đồng với hơn 12.000 thành viên; triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” trên diện rộng và tăng cường hợp tác với các cơ sở đào tạo lớn để phát triển nguồn nhân lực số.

Hoàn thiện thể chế để mở đường cho công nghệ

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Bộ Khoa học và Công nghệ xác định là tiếp tục hoàn thiện thể chế. Riêng trong tháng 5/2026, Bộ đã tham mưu trình Chính phủ ban hành nhiều nghị định, nghị quyết; trình Thủ tướng ban hành hàng loạt quyết định và chủ động hoàn thiện hệ thống thông tư theo thẩm quyền.

Các chính sách tập trung vào hoàn thiện hành lang pháp lý cho công nghệ mới và công nghệ chiến lược; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phát triển hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn, an ninh trong môi trường số.

Song song với đó là thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, 6G, công nghệ vệ tinh và chuyển đổi số. Thông qua các diễn đàn và hoạt động hợp tác với nhiều quốc gia, Việt Nam đang mở rộng cơ hội tiếp cận công nghệ, thu hút đầu tư, chuyển giao tri thức và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nhìn tổng thể, sau hơn một năm triển khai, Nghị quyết 57 đang từng bước chuyển từ định hướng chiến lược sang các chương trình hành động và kết quả cụ thể. Từ việc thúc đẩy doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu, phát triển hạ tầng số, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đến hoàn thiện thể chế và mở rộng hợp tác quốc tế, một hệ động lực mới đang được hình thành.

Con đường phía trước vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt trong việc nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, phát triển nhân lực chất lượng cao và tháo gỡ các điểm nghẽn về dữ liệu và quản trị.

Tuy nhiên, với định hướng coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của phát triển, Việt Nam đang tạo nền tảng để bước vào giai đoạn tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và năng lực cạnh tranh nội sinh, những yếu tố sẽ quyết định vị thế quốc gia trong những thập niên tới.

Dữ liệu từ Hệ thống giám sát, đánh giá triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW cho thấy, đến 17h ngày 03/6/2026 vẫn còn 81 nhiệm vụ quá hạn và 121 nhiệm vụ sắp đến hạn. Những vướng mắc chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực nền tảng số dùng chung, quản trị dữ liệu và liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia. Dù vậy, quá trình triển khai cũng ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh làm sạch dữ liệu, đổi mới thủ tục hành chính số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tạo thêm động lực cho chuyển đổi số quốc gia.

Nguyệt Thương