Tầm nhìn

Giám đốc một doanh nghiệp sản xuất thép của thành phố đang đứng ngồi không yên vì lượng thép tồn kho quá lớn, không tiêu thụ được. Nhẩm tính sơ sơ, ông cho biết: mức thiệt hại của doanh nghiệp lên tới khoảng 1 triệu USD. Theo ông, mức này chưa thấm tháp gì so với một số doanh nghiệp sản xuất thép khác trong thành phố, nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng sản xuất và mức thiệt hại của họ lên tới 2-3 triệu USD, thậm chí còn nhiều hơn nữa. Nhìn rộng ra, cả nước cũng đang ế tới cả triệu tấn thép cán và phôi thép. Các doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải đối mặt.

Thế nhưng, các doanh nghiệp không chỉ tự trách mình, tự tìm cách xoay xở mà còn trách các nhà quản lý vĩ mô thiếu tầm nhìn xa. Khi giá phôi thép thế giới đang tăng cao, nhu cầu trong nước suy giảm, các doanh nghiệp tìm cách xuất khẩu thì lại bị chặn lại bởi các hàng rào quản lý, bởi lo sợ không đủ tiêu dùng trong nước. Đây cũng là chuyện đã diễn ra với gạo, với nhiều mặt hàng khác. Để đến nỗi bây giờ doanh nghiệp cho rằng, dù có giảm thuế xuất khẩu xuống bằng 0, doanh nghiệp cũng vẫn lỗ chứ không nói gì tới mức thuế 5%.

   

Đó là chuyện của năm nay, còn về lâu dài, các doanh nghiệp lại đang lo chuyện khác. Đó là việc gần đây có quá nhiều dự án sản xuất thép được cấp phép, trong đó có nhiều dự án trị giá vài  tỷ USD. Không nói tới tính hiệu quả của các dự án này vội, chỉ so sánh với dự báo và quy hoạch sản xuất thép tới năm 2025 thì công suất đã vượt xa. Cụ thể, theo dự báo của Bộ Công Thương, nhu cầu thép thành phẩm của Việt Nam năm 2010 là 11-12 triệu tấn; năm 2015 là 15-16 triệu tấn; năm 2025 khoảng 24-25 triệu tấn, nhưng nếu tất cả các dự án sản xuất thép cùng hoạt động thì công suất sẽ cao hơn nhiều. Không những thế, vẫn còn quá nhiều các dự án cán thép trong khi Việt Nam đang cần nhiều loại thép đặc chủng phục vụ nhu cầu phát triển một số ngành công nghiệp nặng  như đóng tàu, cơ khí… Bởi vậy, nếu dự báo không đi kèm theo nhu cầu và đặc biệt là thiếu tầm nhìn, ngành thép sẽ lại rơi vào khủng hoảng thừa hoặc thiếu, gây bất lợi cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư.

  

Suy rộng ra, tính dự báo trong phát triển kinh tế là cần thiết và cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa, dù ở tầm địa phương hay tầm quốc gia. Những gì xảy ra trong năm 2008 thể hiện sự bất cập của những dự báo. Đây là khâu được coi là yếu kém nhất hiện nay bởi không đáp ứng được yêu cầu kể cả trong ngắn hạn chứ chưa nói tới dài hạn hàng chục năm. Tuy nhiên, để có thể có được những dự báo chính xác và kịp thời, cần nhất vẫn là yếu tố con người mà cụ thể hơn là phải biết kết hợp giữa nghiên cứu, nhận định với kinh nghiệm và khả năng đánh giá thị trường. Tại Hải Phòng và Việt Nam, 2 khâu này đang bị tách biệt nhau. Các nhà nghiên cứu, dự báo phần lớn dựa vào tài liệu mà ít kinh nghiệm thực tế. Ngược lại, người có kinh nghiệm, thực tế là các doanh nghiệp lại ít khi được hỏi tới. Do đó, mới có chuyện có những cơ chế chính sách ngay sau khi ra đời đã  bất cập và không mang lại hiệu quả. Câu chuyện của ngành thép mới chỉ là một trong muôn vàn các vấn đề lớn trong phát triển kinh tế, xã hội. Bởi vậy, dự báo chính xác đúng tình hình, có tầm nhìn dài hạn sẽ tránh được nhiều thiệt hại và là chìa khóa mang tới thành công của môi doanh nghiệp, thành phố và  quốc gia.

 

Trọng Nhân