Tác động khó lường sau 3 năm gia nhập WTO

Mặc dù khẳng định thực tiễn 3 năm gia nhập WTO đã chứng minh tính đúng đắn về tổng thể của Nghị quyết 08-NQ/TW, song theo TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với nền kinh tế  sau khi Việt Nam gia nhập WTO là “khó lường”.

Mặc dù khẳng định thực tiễn 3 năm gia nhập WTO đã chứng minh tính đúng đắn về tổng thể của Nghị quyết 08-NQ/TW, song theo TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với nền kinh tế  sau khi Việt Nam gia nhập WTO là “khó lường”.

“Chúng ta đã sử dụng nhiều mô hình phức tạp, hàng trăm phương trình để nhìn nhận, đánh giá tác động của hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) đối với nền kinh tế (KT) sau khi gia nhập WTO nhưng sai hết.”-  TS Thành phát biểu tại buổi công bố Báo cáo “Tác động của HNKTQT đối với nền KT sau khi Việt Nam gia nhập WTO” do CIEM tổ chức hôm qua.

Chưa như kỳ vọng

“Chỉ một thời gian ngắn sau khi VN gia nhập WTO, KT thế giới rơi vào suy thoái khiến cho nhiều cơ hội phát triển của nước ta không còn hiện hữu…”- TS Phạm Lan Hương, Quyền Trưởng ban Chính sách KT vĩ mô (CIEM) nhận định. Nhìn tổng thể, HNKTQT và đặc biệt gia nhập WTO đã có tác dụng tích cực đến tăng trưởng KT của VN trong 3 năm. Các cơ hội đan xen với hàng loạt thách thức từ quá trình HNKTQT đã tác động mạnh mẽ đến nền KT VN.

Trong 2 năm 2007- 2008, HNKTQT tuy có tác động tích cực đến xuất khẩu (nếu không tính năm 2009, do tác động của mạnh của khủng hoảng), tuy nhiên tăng trưởng xuất khẩu không thể hiện mức độ bứt phá so với các năm trước và như kỳ vọng sau khi gia nhập WTO.

Tác động khó lường sau 3 năm gia nhập WTO

Sự gia tăng của nhập khẩu và nhất là nhập siêu cũng là điều không lường trước được trước khi gia nhập WTO. Thu hút FDI tăng cao được xem là thành tựu nỏi bật của VN sau khi gia nhập WTO. Môi trường pháp lý minh bạch hơn, bình đẳng hơn, mức độ mở cửa cao hơn sau khi VN trở thành thành viên WTO, các điều kiện ưu đãi trong các hiệp định thương mại, đầu tư song phương và khu vực mà VN tham gia là những yếu tố quan trọng nhất thu hút đầu tư tại VN.

Theo TS Võ Trí Thành, việc gia nhập WTO, tham gia các hiệp định thương mại, những “cú sốc” từ bên ngoài và bản thân nội tại nền KT đều là những nguyên nhân tác động đến nền KT Việt Nam. Do vậy bóc tách ra để đánh giá tác động của việc gia nhập WTO là rất khó mà chỉ nhìn ra cái nào là cơ bản nhất.

Kinh tế vĩ mô: Mỗi năm một chính sách

“Chỉ trong một thời gian ngắn chúng ta đã phải chứng kiến nhiều chuyện KT xảy ra rất kinh khủng: khủng hoảng năng lượng, lương thực, tài chính, môi trường, và bây giờ là khủng hoảng hạt nhân. Những cú sốc từ bên ngoài tác động lớn đến nền KT VN, đặc biệt là một nền KT mở như VN. Để đối phó lại, mỗi năm VN áp dụng một chính sách. Năm 2007 ưu tiên tăng trưởng, năm 2008 tập trung ổn định vĩ mô, năm 2009 chống suy giảm KT, cuối 2009 đầu năm 2010 thắt chặt chi tiêu, năm 2010 lại tiếp tục ổn định vĩ mô…”, TS Thành phân tích.

Dưới tác động của các diễn biến KT thế giới và chính sách KT trong nước, lạm phát trong 3 năm hậu WTO đã diễn ra phức tạp hơn, theo những chiều hướng khác nhau.  Đặc biệt đối với tỷ giá VND/USD, giai đoạn 2007- 2009, tỷ giá diễn biến hết sức phức tạp, theo những chiều hướng khác nhau. Ngay cả giai đoạn tỷ giá có xu hướng tăng, mức tăng cũng đã khó lường hơn rất nhiều. Chính vì vậy tỷ giá VND/USD trên thị trường liên ngân hàng và biên độ giao dịch cũng liên tục được điều chỉnh trong giai đoạn 2007- 2009. Cũng như tỷ giá, cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cũng được đánh giá là “biến động mạnh và khó lường hơn rất nhiều”.

Tác động rõ nhất của HNKTQT đối với BOP trong các năm 2007- 2009 so với rước khi gia nhập WTO là gia tăng mức độ thâm hụt thương mại, hâm hụt cán cân vãng lai và chu chuyển vốn, kể cả số tuyệt đối và tỷ lệ theo GDP (thâm hụt cán cân vãng lai đạt gần 7 tỷ USD (9,8% GDP) năm 2007, 11,7 tỷ USD (11,9% GDP) năm 2008, và khoảng 7,4 tỷ USD (7,7% GDP) năm 2009). “Mức thâm hụt này là lớn hơn rất nhiều so với các năm 2001- 2006, khi mà cán cân vãng lai chỉ đạt thâm hụt tối đa gần 1,9 tỷ USD (năm 2003)”- TS Thành lưu ý.

Được biết, CIEM đang dự thảo một Nghị quyết của Chính phủ về HNKTQT thay thế Nghị quyết 16/NQ-CP, bên cạnh việc tiếp tục cải cách thể chế, vấn đề được Nghị quyết này lưu ý là lựa chọn đối tác để hội nhập sâu hơn thông qua các đàm phán các Hiệp đinh thương mại tự do. “Hy vọng Nghị quyết này được ban hành sẽ là cú hích mới cho quá trình HNKTQT của VN”- TS Thành kỳ vọng.

Thanh Lan