“Ta bên Người, Người toả sáng trong ta…”

Ít người có  vinh dự như ông Nguyễn Quang Thuận, chiến sĩ Điện Biên năm xưa, nay là Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Đại Hợp (Kiến Thụy). Ông là một trong 5 chiến sĩ xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ được báo công chúc mừng sinh nhật Bác Hồ ngay trong những ngày hoà bình đầu tiên sau kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến sĩ Nguyễn Quang Thuận còn được Bác tặng quà, gắn huy chương, chụp ảnh cùng và sống bên Người tại An toàn khu Định Hoá (Thái Nguyên).

 

Gặp ông Thuận tại nhà riêng ở thôn Quần Mục, xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, thấy người cựu chiến binh Điện Biên năm xưa vẫn nhanh nhẹn, khoẻ mạnh, năng nổ với công việc xóm làng, chúng tôi khá bất ngờ khi biết, năm nay, ông đã bước sang tuổi 82. Gương mặt quắc thước, dáng đi nhanh nhẹn, giọng nói sang sảng, phong cách của ông vẫn đậm “chất lính”. Khi chúng tôi hỏi về kỷ niệm những lần được gặp Bác Hồ, người lính già trầm giọng kể:

 Bác Hồ đã đi xa, nhưng lúc nào, hình ảnh Người cũng trong trái tim tôi. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ như in hình ảnh ông cụ mắt sáng như sao, vầng trán cao, chòm râu bạc, Bác mặc chiếc áo chàm giản dị, chiếc khăn rằn miền Nam luôn trên vai. Hình ảnh của Người nổi bật giữa cảnh sắc của An toàn khu Định Hoá. Là vị lãnh tụ, nhưng Người thật gần gũi, quan tâm đến từng việc nhỏ…Cảm xúc ngày 19-5-1954, nghe trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 (trung đoàn pháo cao xạ đầu tiên của Việt Nam) thông báo được cùng 4 chiến sĩ xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ về An toàn khu báo công và chúc mừng sinh nhật Bác vẫn còn vẹn nguyên trong tôi. Tôi xúc động, vui mừng đến độ chạy khắp căn cứ Mường Phăng (Điện Biên) khoe tin vui. Ngay sáng hôm ấy, tôi cùng bốn anh em gồm: Phạm Thế Nhuận, đại đội trưởng đánh sân bay Mường Thanh; Hoàng Đăng Vinh, chiến sĩ bắt sống tướng Đờ Cát; Phạm Văn Phan, công binh đưa bộc phá vào giữa đồi A1 và Bạch Ngọc Giáp, chiến sĩ đại đoàn 351 pháo mặt đất, từ căn cứ Mường Phăng về An toàn khu Định Hoá. Trên đường đi, chúng tôi đều hồi hộp, mỗi người tưởng tượng về Bác theo cách riêng của mình. Trong đầu tôi lúc ấy sáng lên hình ảnh Bác cưỡi ngựa trong chiến dịch biên giới trên khung tranh treo ở căn cứ Mường Phăng.

Ngày ấy đường đi còn rất khó khăn, chúng tôi đến An toàn khu Định Hoá đã hơn 6 giờ chiều. Đồng chí Trường Chinh đón chúng tôi tại khu vực nhà khách của Trung ương, dặn dò các chiến sĩ vài điều, rồi bảo chúng tôi đi ăn cơm. Ai cũng mong được gặp Bác Hồ ngay, nhưng biết Bác bận rất nhiều việc nên không dám hỏi. Khoảng 10 giờ 30 phút đêm hôm ấy, vì đi đường mệt, cả 5 anh em đều thiêm thiếp ngủ. Chợt nghe tiếng cậu Vinh (Hoàng Đăng Vinh) nghẹn ngào: “Bác ơi!”, tất cả chúng tôi choàng dậy, thấy Bác Hồ ngồi sát bên giường, tay vén chăn cho các chiến sĩ. Ai cũng bất ngờ, ngỡ ngàng, không nói nên lời. Người ân cần hỏi:

- Các cháu đi đường có mệt không? Biết các cháu về nhưng Bác bận chưa đến thăm ngay được.

Chúng tôi đều đồng thanh: “Chúng cháu được về thăm Bác là khoẻ lắm ạ!”. Bác nhìn chúng tôi cười trìu mến. Ánh mắt Người thật ấm áp. Sau vài lời thăm hỏi, Bác yêu cầu các chiến sĩ đi ngủ. Trong lúc chúng tôi còn ngỡ ngàng, Bác nhẹ nhàng đi về phía cửa. Đêm ấy, cả 5 anh em đều thao thức, mong trời mau sáng, phần lo Bác vì việc nước, việc dân đêm nay lại không ngủ…Sáng sớm hôm sau, sau sinh nhật Bác một ngày, Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo tin lát nữa chúng tôi sẽ được gặp Bác Hồ, báo cáo chiến công với Bác và Bộ Chính trị. Ai cũng sung sướng, hồi hộp hơn cả khi ra trận. Khoảng 9 giờ 30 phút, Bác đón chúng tôi ngay sân vườn, phía trước khu lán trại Bác đang ở và làm việc. Phía sau Người, tôi thấy có bác Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Văn Tiến Dũng, đồng chí Lê Liêm, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Bác bắt tay từng người rất chặt, nhìn chúng tôi trìu mến. Vẫn mặc chiếc áo chàm giản dị, chân đi giày vải, Bác như một “ông Ké” của núi rừng Định Hoá. Tôi không cầm nổi xúc động:

- Cháu thấy Bác gầy quá!

Bác cười hiền từ, chòm râu bạc khẽ rung, trấn an các chiến sĩ:

- Các cháu đừng lo, Bác còn leo núi giỏi!

 Rồi bất chợt Bác hỏi:

- Ai bắt sống tướng Đờ Cát?

Cậu Vinh giật mình, vội đứng lên thưa Bác và Bộ Chính trị về thành tích bắt sống tướng Đờ Cát trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Chúng tôi quá đỗi bất ngờ! Thì ra Bác đã biết trước thành tích của từng người. Đến lượt mình, tôi run quá, báo cáo thành tích bắn rơi máy bay B24 đầu tiên ở Điện Biên Phủ, kể chuyện một mình lao theo, cứu pháo trượt xuống vực sâu mà vấp đến mấy lần. Tôi ngập ngừng mãi. Vậy mà Bác rất lắng nghe. Người còn hỏi:

- Khi một mình đứng trên khẩu pháo lao xuống vực, cháu có sợ không?

Không hiểu sao lúc ấy tôi trả lời rất rành rọt: “Thưa Bác, lúc ấy cháu chỉ nhớ mỗi việc cứu pháo bằng được, quên cả sợ!”

Sau khi nghe chúng tôi kể về chiến công và chúc thọ Người, Bác bảo năm chiến sĩ chúng tôi cùng đứng thành hàng ngang. Rồi Người gắn Huy chương Chiến công cho từng chiến sĩ. Bác còn nhờ đồng chí Cát- man, người Liên Xô, chụp ảnh cho Bác, Bộ Chính trị và các chiến sĩ xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Tôi thấy trống ngực đập thình thình, cứ như sống trong mơ. Chụp ảnh xong, Bác bảo các đồng chí trong Bộ Chính trị đưa các chiến sĩ thăm An toàn khu, báo công với các đồng chí khác trong Trung ương Đảng. Khi nào xong việc lại về gặp Bác.

“Ta bên Người, Người toả sáng trong ta…”
Ông Nguyễn Quang Thuận (người đứng thứ 3 hàng sau-từ trái sang phải) cùng 4 chiến sĩ xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên trong lần về An toàn khu báo công và chúc mừng sinh nhật Bác Hồ (19-5-1954).

Những ngày sau đó, năm anh em chúng tôi được sống trong không khí hừng hực khí thế cách mạng với người dân và đồng đội. Mỗi người tự hào vì được sống rất gần bên Bác, nghe kể chuyện về Bác dù không được gặp Người hằng ngày”…

Chợt ông Thuận đứng dậy, đi về phía phòng làm việc. Một lát, ông đem ra một hộp gỗ, đựng rất nhiều huân, huy chương. Dưới cùng hộp gỗ là hai tấm ảnh đen trắng được bọc rất cẩn thận. Đó là ảnh ông Thuận cùng bốn chiến sĩ chụp ảnh chung với Bác Hồ và Bộ Chính trị. Ông Thuận xúc động:

 “Đây là kỷ vật tôi mang theo suốt đời! Sau lần chụp ảnh này, tôi còn vinh dự gặp Bác Hồ một lần nữa. Đó là sau sinh nhật 19-5-1954 của Bác, đúng một tháng  sau khi đi thăm An toàn khu và báo cáo chiến công với các đồng chí cán bộ Trung ương, chúng tôi lại trở về gặp Bác. Lần này, Bác đãi cơm chúng tôi, ngay trong khu lán của Người. Trước khi ăn, Bác nói vui: “Đây là bữa cơm Bác mời các cháu, không phải Nhà nước mời. Thịt thỏ do Bác tự nuôi, rau bác trồng trong vườn…”.Vừa nói, Bác vừa ân cần gắp thức ăn cho từng chiến sĩ. Giây phút ấy, chúng tôi thấy Bác như người cha chăm lo cho các con. Bác còn hỏi chuyện quê nhà của từng người, dạy chúng tôi về lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước, yêu đồng bào. Sau bữa ăn, Bác bảo đồng chí Trường Chinh đưa chúng tôi đi thăm vườn rau của Bác. Chúng tôi không giấu nổi nước mắt khi nghe đồng chí Trường Chinh kể chuyện, hằng tháng, Bác vẫn góp cho nhà bếp 15 kg rau do Người tự trồng, mỗi bữa Bác vẫn nhường một nắm gạo cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Thăm vườn rau xong, chúng tôi được Bác gọi lại, đưa cho mỗi người một gói quà về cho đơn vị. Nắm tay từng chiến sĩ, Bác dặn:

- Các cháu về cho Bác gửi lời hỏi thăm đơn vị. Nếu cháu nào được về phép, cho Bác gửi lời thăm đến gia đình.

Chia tay Bác, chúng tôi chẳng muốn rời. Chân bước đi mà đôi mắt vẫn tràn đầy hình ảnh Bác, bên tai vẫn văng vẳng tiếng Người. Hình ảnh “ông Ké cách mạng” giản dị trong chiếc áo chàm, ánh mắt như cười nơi chiến khu xưa ấy, đã theo tôi suốt cuộc đời. Sau này, trên đường vào chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, góp phần giải phóng thành phố Huế, những ngày tham gia xây dựng Bảo tàng Điện Biên Phủ, hay làm công tác chuyển vũ khí ở sân bay Bạch Mai, về trường huấn luyện pháo cao xạ Quân khu Ba,…tôi đều cảm nhận như có Bác ở bên. Lời dạy của Người luôn vang lên, giúp tôi vững bước trong mỗi chặng đường khó khăn. Năm 1975, tôi rời quân ngũ về quê hương Đại Hợp nhưng không ngừng nghỉ công tác, cống hiến. Tôi tiếp tục tham gia công tác ở hợp tác xã nông nghiệp, nhiều năm liền là Hội trưởng Hội Bảo thọ. Đến nay, dù đã cao tuổi, tôi vẫn tham gia công tác mặt trận, mong góp sức mình đến hơi thở cuối cùng cho quê hương, xứng đáng với niềm tin của Bác”.

Kim Oanh