Suy nghĩ đầu Xuân

Tùy bút của Trung Trung Đỉnh

 

Tôi thực lòng nhiều lúc nửa đêm chợt tỉnh, cứ hay ngẩn ngơ ngồi một mình trước bàn, và trong bao nhiêu ý nghĩ đời người,  ngoái đi,  ngoái lại, loáng một cái, thế là tôi đã xa quê trọn bốn mươi năm rồi. Bốn mươi năm xa cái làng Sưa bé nhỏ nép mình bên sông Hóa, xa tuổi thơ thả trâu chân đê, bắt chuồn chuồn giữa trưa hè ruộng thuốc lào nhà ai đêm qua mới bẻ lá còn sực nức mùi cay nồng của chân chất quê mùa, xa ngôi trường làng sơ tán dưới những lũy tre ken dày với bóng thầy Thìn áo nâu, guốc mộc, xa thầy Công có mái tóc bồng, xa thầy Giao cao lênh khênh, giảng địa lý như giảng đạo đất trời, xa thầy Cách dạy sử lúc nào cũng trầm tư sâu lắng. Các thầy giảng văn Nguyễn Trãi, đọc thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, giảng về rẻo đất Vĩnh Lại xưa, Vĩnh Bảo ta nay là vùng đất sa bồi địa linh nhân kiệt trong căn nhà hầm lớp học, át tiếng máy bay Mỹ gầm gừ lúc xa, và cả lúc chúng lao xuống, thả bom, vọt lên, xé rách bầu trời ngay trên đầu chúng tôi,  hay như một nghệ sĩ , hấp dẫn như một đạo sĩ, truyền cảm như nhà tiên tri,  quyến rũ dịu dàng như mẹ cho con bú, còn lũ trẻ chúng tôi như đám con chiên ngoan đạo, như lũ chim non được chim mẹ dạy cách bay, cách chọn cành đậu, cách hót ca khi bình minh đến, lúc chiều tà buông, cách chọn hạt ăn và cả cách theo đàn tung cánh lên bầu trời khi vui vẻ, sải cánh giữa đời lúc sa cơ, lẻ bạn...

Suy nghĩ đầu Xuân
Xuân về trên sông Cấm

Cách đây bốn mươi năm, tôi cũng là một chàng trai mười tám đôi mươi. Lứa chúng tôi lớn lên trong khoảnh khắc hiếm hoi của thời bình ở thành phố Cảng, ở những làng quê trù phú bình yên giữa hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ. Cái khoảnh khắc thời bình linh thiêng ấy đã bồi đắp cho tâm hồn  chúng tôi đủ nghị lực vượt lên gian khó, vượt lên ác liệt của chiến tranh, để rồi mãi tới sau này, dẫu có đi đâu, làm gì , ai ai cũng đều nhớ về ruộng lúa chân đê, đình làng, xóm bãi. Nhớ tiếng còi  tàu ngoài bến cảng trưa hè. Nhớ chùm hoa phượng vĩ chói chang sắc đỏ học trò cùng mái trường Ngô Quyền trước ngày sơ tán. Nhớ đường phố Cát Dài, Cát Cụt, Dư Hàng rợp bóng cây xanh, nhớ sông Cấm tàu, thuyền tấp nập ra vào và dáng đứng đầy kiêu hãnh của Nhà máy Xi-măng “ngút trời khói tỏa”,  biểu tượng của nền công nghiệp thuở ban đầu. Âm vang trong tâm hồn mỗi chàng trai, mỗi cô gái ra đi ngày ấy giai điệu thân thương của bài hát thân thương:

Hải Phòng quê tôi trìu mến
Có nhiều sông uốn khúc chảy quanh
Biển xanh mênh mông dạt dào
Thuyền ra khơi cá tươi đầy lưới

Bạch Đằng ngân vang truyền thống
Đánh giặc Nguyên tan trên dòng sông
Thành Tô dâng cao cờ hồng
Diệt ngoại xâm năm xưa lẫy lừng...

Diệt ngoại xâm năm xưa lẫy lừng! Tôi cứ nhớ mãi hôm lên đường nhập ngũ bốn mươi năm trước. Lớp tôi mỗi bạn đóng một bát gạo với năm hào làm bữa liên hoan. Bữa liên hoan có mời bác Nhuận chủ nhà trọ của tôi cùng các thầy, cô. Tôi đứng trên thềm đọc bài thơ “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” của Chế Lan Viên với giọng  hào sảng, trẻ trung khiến cả sân người lặng phắc khi tôi ngưng đọc. Ai cũng biết, trước đó tôi nhiều lần đi khám nghĩa vụ quân sự đều thiếu cân, đều phải ngậm tủi quay về. Lần này muốn đi phải tọng hai cân đá dăm vào túi quần rộng thùng thình, cái quần “phăng” tôi lấy của anh trai đã nhập ngũ hai năm trước để lại, suýt bị  “các chú” phòng khám cân đo phát hiện. Thực ra, họ đã phát hiện được rồi, nhưng vì thương tình mà “lơ” đi cho! Tôi kể chuyện này vì muốn tâm sự cùng các bạn trẻ thời mở cửa.  Người Hải Phòng quê ta dù sinh ra từ thành thị hay nông thôn, dù ở vào thời đại nào thì đều có cái đặc điểm chung là: “Đã muốn là làm, đã làm là không sợ sai, đã sợ sai thì đừng muốn!” . Thầy tôi là một bác Khóa, một ông đồ nho đã bỏ vào túi cậu con trai mười tám tuổi yêu quý của mình khi cậu lên đường nhập ngũ câu thành ngữ ấy,  kèm với câu dặn dò của Người:

“Làm trai đất Trạng Trình chớ quên chí học”.

Tôi biết, thầy tôi khao khát cho tôi được học đại học biết chừng nào. Nhưng đành “nuôi chí” vậy thôi!

 Đất nước giặc giã, trai làng sao yên?

Sau chiến tranh, tôi đã  không cầm được nước mắt  khi gặp mẹ Rũ - bà mẹ Việt Nam Anh  hùng. Với mẹ, nước mắt khóc 6 người con đã hy sinh ngoài mặt trận chẳng đủ lắm rồi sao? Mới năm năm trước, tôi đã khóc khi con gái tôi mười bảy tuổi điện thoại vào Tây Nguyên nơi tôi đang công tác rằng: “Bố ơi, con đã đỗ đại học rồi. Đỗ những 25 điểm cơ, không cần điểm ưu tiên thương binh của bố!”.  Ôi, tuổi trẻ! Tuổi trẻ bao giờ cũng kỳ diệu, cũng tạo nên bất ngờ, cũng khiến ta vững lòng tin vào cái mới đang nở rộ từ muôn phương, và cái mới đã và đang được tuổi trẻ Hải Phòng quê ta đón nhận , biến nó thành sản phẩm chung của xã hội. Cây cầu Bính vựơt sông có kỳ diệu không? Cây cầu của tuổi trẻ đấy! Phà  Quý Cao lam lũ năm xưa, nay cũng đã uốn cong vóc dáng cây  cầu mới vượt sông,  có kỳ diệu không? Sức vóc của  tuổi trẻ đấy! Sân bay Cát Bi được mở mang hoành tráng như bây giờ có kỳ diệu không? Và kia nữa, đảo Đình Vũ năm xưa sơ sài cỏ cây hoang dã, nay rộn ràng trên bến dưới tàu. Cát Bà biển sinh thái, rừng sinh thái, du khách bốn biển năm châu tìm về chiêm ngưỡng vẻ đẹp trời cho được con người  dày công bảo tồn chăm giữ. Đất biển Đồ Sơn mấy năm qua “động” giờ đây  đã hồi tỉnh, đã bừng thức. Vết thương Đồ Sơn rồi sẽ lành và nó đang lành,  “điểm nóng” Đồ Sơn đã nguội và đang nguội.  Đồ Sơn của chúng ta đã tự tin hơn. Chính Đồ Sơn đã giúp ta nhận ra được một bài học về quản lý, một bài học đắt giá về chính mình...

Tôi thỉnh thoảng cứ hay tự ngửa cổ lên trời “kêu lên” hai câu thơ của thi sĩ Thi Hoàng:

"Trời thì  xanh như rút ruột mà xanh"
Cây cứ biếc như vặn mình mà biếc".

Hai câu thơ ấy tạc vào thế hệ tôi, tạc vào các thế hệ sau và sau nữa của quê nhà lời ngợi ca thao thiết rằng, có được vẻ đẹp dường kia, bầu trời cũng  phải oằn mình rút ruột ra và “cái cây xanh kia cũng thế. Muốn đẹp, muốn xanh cũng phải “vặn mình” mới xanh được...

  Ở đời, không có cái gì tự nhiên sinh ra, cũng không có cái gì tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Đó là quy luật của muôn đời. Rồi đây ai cũng phải già. Rồi đây ai cũng phải “hóa thân hoàn vũ” hoặc nằm yên nghỉ dưới ba tấc đất quê mình. Dù anh có là... thi  rồi đây... cũng thế!

 Nhưng dù thế vẫn có cái không bao giờ mất, ấy là cái đẹp! Cái  đẹp là cái vĩnh hằng. Nhân cách và tài năng của cụ  Nguyễn Bỉnh Khiêm là cái đẹp. Cái đẹp ấy vượt  thời gian, vượt không gian,  hay nói đúng hơn, thời gian càng tiến tới thì vẻ đẹp uy phong lộng lẫy của cụ càng ngời sáng. Cũng như ngọc. Ngọc càng mài càng sáng. Mai đây dù khoa học tự nhiên có thể tạo ra nhiều không gian sống. Không gian có thể nở phồng lên hay mở rộng ra rồi co hẹp lại, thì vẻ đẹp cao khiết của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không thể phai mờ, nó chỉ sáng rỡ hơn mà thôi . Vì sao vậy? Bởi đó là vẻ đẹp của VĂN HÓA.