Sửa quy định miễn, giảm tiền thuê đất: Nhiều trường hợp được đơn giản hồ sơ

Sửa quy định miễn, giảm tiền thuê đất: Nhiều trường hợp được đơn giản hồ sơ

Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 21/2026/TT-BTC, sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 80/2021/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ.

Một trong những nội dung đáng chú ý của thông tư mới là sửa đổi Điều 59 liên quan đến hồ sơ miễn, giảm tiền thuê đất đối với một số trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan thuế.

Cụ thể, đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối nhưng bị thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuê đất gồm: văn bản đề nghị theo mẫu; biên bản xác định mức độ, giá trị thiệt hại về tài sản; tài liệu chứng minh các khoản hỗ trợ của Nhà nước nếu có; cùng bản sao quyết định cho thuê đất hoặc hợp đồng thuê đất.

Theo quy định mới, biên bản xác định mức độ, giá trị thiệt hại không cần xác nhận của đại diện chính quyền. Việc xác định thiệt hại sẽ do cơ quan tài chính hoặc cơ quan giám định thực hiện. Trường hợp thiệt hại về hàng hóa, người nộp thuế phải cung cấp biên bản hoặc chứng thư giám định của cơ quan giám định theo quy định pháp luật.

Đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hằng năm để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh nhưng phải tạm ngừng hoạt động để khắc phục hậu quả do thiên tai, hỏa hoạn hoặc tai nạn bất khả kháng, hồ sơ giảm tiền thuê đất gồm: văn bản đề nghị theo mẫu; văn bản xác nhận thời gian tạm ngừng hoạt động của cơ quan có thẩm quyền; và bản sao quyết định cho thuê đất hoặc hợp đồng thuê đất.

Thông tư cũng quy định hồ sơ miễn, giảm tiền thuê đất đối với tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số tại các địa bàn thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Hồ sơ gồm văn bản đề nghị; văn bản của tổ chức, đơn vị cung cấp thông tin về tỷ lệ lao động là người dân tộc thiểu số, số lao động bình quân năm và số lao động có mặt làm việc thường xuyên bình quân năm; cùng bản sao quyết định cho thuê đất hoặc hợp đồng thuê đất. Tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đã cung cấp.

Bên cạnh đó, hồ sơ miễn, giảm tiền thuê đất đối với tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người khuyết tật cũng được hướng dẫn cụ thể. Theo đó, hồ sơ gồm văn bản đề nghị; bản sao văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận tỷ lệ sử dụng lao động là người khuyết tật hoặc văn bản của tổ chức, đơn vị cung cấp thông tin về tỷ lệ này của năm trước liền kề; cùng bản sao quyết định cho thuê đất hoặc hợp đồng thuê đất. Tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người khuyết tật cũng phải chịu trách nhiệm về thông tin kê khai.

Đáng chú ý, Thông tư 21/2026/TT-BTC nêu rõ: đối với các giấy tờ trong hồ sơ miễn, giảm tiền thuê đất do cơ quan nhà nước cấp hoặc xác nhận mà đã được tích hợp đầy đủ trên cơ sở dữ liệu quốc gia, đồng thời cơ quan có thẩm quyền có thể khai thác được dữ liệu này, thì người thuê đất không phải nộp lại khi làm thủ tục.

Trong trường hợp cơ quan giải quyết không khai thác được thông tin, hoặc dữ liệu khai thác được chưa đầy đủ, chưa chính xác, người thuê đất sẽ được yêu cầu bổ sung hồ sơ để làm căn cứ xem xét miễn, giảm tiền thuê đất; đồng thời thực hiện cập nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định.

Thông tư mới được đánh giá sẽ góp phần làm rõ thủ tục, giảm bớt giấy tờ phải nộp và tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện chính sách miễn, giảm tiền thuê đất.

Trang Ly