Sửa Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá: Không nên 'bỏ ngỏ' nguy cơ từ khói thuốc thụ động nơi công cộng

Sửa Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá: Không nên 'bỏ ngỏ' nguy cơ từ khói thuốc thụ động nơi công cộng
Quy định cho phép bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc tại một số địa điểm công cộng trong nhà đang bộc lộ những bất cập, đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ người dân trước tác hại của khói thuốc thụ động. (Ảnh: Thanh Hà).

Sau hơn 13 năm thi hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, thực tiễn đang đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các quy định về địa điểm cấm hút thuốc, trách nhiệm quản lý và thẩm quyền xử lý vi phạm. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, xây dựng môi trường không khói thuốc toàn diện không chỉ đòi hỏi quy định pháp luật chặt chẽ mà còn cần cơ chế thực thi rõ ràng, hiệu quả để bảo vệ sức khỏe cộng đồng khỏi thuốc lá thụ động.

Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng môi trường không khói thuốc tại Việt Nam. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ thực hiện, luật hiện hành vẫn cho phép bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc tại một số địa điểm công cộng trong nhà và phương tiện giao thông, trong khi việc xác định trách nhiệm kiểm tra, xử lý vi phạm còn những bất cập.

Việc sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá là cơ hội để Việt Nam phát huy những tiến bộ đã đạt được, tăng cường các biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá hiện có, đồng thời áp dụng thêm những biện pháp dựa trên bằng chứng nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Xu hướng mở rộng môi trường không khói thuốc trên thế giới

Trong hai thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã liên tục mở rộng phạm vi và tăng cường mức độ nghiêm ngặt của các chính sách về môi trường không khói thuốc nhằm bảo vệ người dân trước tác hại của khói thuốc thụ động.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính đến năm 2024, có 79 quốc gia và vùng lãnh thổ ban hành luật cấm hút thuốc hoàn toàn theo chuẩn thực hành tốt nhất tại các địa điểm công cộng trong nhà, nơi làm việc trong nhà và phương tiện giao thông công cộng, qua đó bảo vệ khoảng 2,6 tỷ người trên toàn cầu. Con số này tăng đáng kể so với năm 2007, khi chỉ có 10 quốc gia áp dụng lệnh cấm hút thuốc tại các địa điểm công cộng trong nhà. Riêng giai đoạn 2022 - 2024, có thêm 6 quốc gia ban hành luật mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng.

Hiện gần 40% quốc gia có những địa điểm công cộng trong nhà hoàn toàn không khói thuốc. Trong đó, châu Mỹ dẫn đầu về mức độ bảo vệ toàn diện, với gần 80% (23/29) quốc gia bảo đảm tất cả các không gian công cộng hoàn toàn không có khói thuốc. Ngược lại, châu Phi có mức độ bảo vệ thấp nhất, với gần một nửa số quốc gia chưa ban hành lệnh cấm hoặc chỉ cấm hút thuốc tại rất ít địa điểm.

Ở khu vực ASEAN, Thái Lan đã mở rộng quy định cấm hút thuốc hoàn toàn tại nhiều địa điểm công cộng, phương tiện giao thông, cơ sở dịch vụ và áp dụng vùng cấm 5 mét. Singapore quy định danh mục địa điểm cấm hút thuốc cụ thể, tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, xử phạt. Trong khi đó, Philippines nhấn mạnh trách nhiệm của chủ sở hữu, người quản lý hoặc người đứng đầu địa điểm trong tổ chức thực thi các quy định về môi trường không khói thuốc. Việt Nam hiện là quốc gia duy nhất trong ASEAN chưa cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà tại toàn bộ bốn nhóm địa điểm gồm khu vực cách ly của sân bay; tàu thủy, tàu hỏa; khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch; quán bar/karaoke/vũ trường.

Tại Ireland, Scotland và Anh, các quy định toàn diện về môi trường không khói thuốc mang lại những tác động tích cực đối với sức khỏe cộng đồng, trong đó có giảm mạnh mức phơi nhiễm nicotine, cotinine ở nhân viên quán bar và giảm tỷ lệ nhập viện do hen suyễn ở trẻ em.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chính sách môi trường không khói thuốc hiệu quả cần có phạm vi cấm rõ ràng, bao phủ rộng và cơ chế thực thi cụ thể. Việc mở rộng môi trường không khói thuốc không chỉ khả thi về mặt pháp lý và thực thi mà còn đem lại lợi ích trực tiếp cho sức khỏe cộng đồng, đặc biệt đối với trẻ em, người lao động và các nhóm dễ bị tổn thương.

Quy định cho phép bố trí nơi hút thuốc riêng và những bất cập đặt ra

Tại Việt Nam, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 đã tạo cơ sở quan trọng để xây dựng môi trường không khói thuốc. Tuy nhiên, luật hiện hành vẫn cho phép bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc tại khu vực cách ly của sân bay; quán bar, karaoke, vũ trường; khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch; tàu thủy và tàu hỏa. Đây đều là những không gian trong nhà hoặc phương tiện kín, nơi khói thuốc dễ tích tụ nhưng người lao động và khách hàng vẫn chưa được bảo vệ đầy đủ trước nguy cơ phơi nhiễm khói thuốc thụ động.

Khu vực "ngoại lệ" cho phép hút thuốc lá tại sân bay Việt Nam. (Ảnh: PV).
Khu vực "ngoại lệ" cho phép hút thuốc lá tại sân bay Việt Nam. (Ảnh: PV).

Những người chịu ảnh hưởng không chỉ là khách hàng mà còn có nhân viên khách sạn, quán bar, karaoke, vũ trường; nhân viên phục vụ trên tàu hỏa, tàu thủy và tại sân bay. Phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người có bệnh nền và những khách hàng không hút thuốc nhưng không thể tránh khỏi khói thuốc trong không gian kín cũng là những đối tượng có nguy cơ bị ảnh hưởng.

Theo TS Angela Pratt, Trưởng Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam, không có mức phơi nhiễm khói thuốc thụ động nào được xem là an toàn. Khói thuốc thụ động rất nguy hiểm, gây nhiều tác động đến sức khỏe, trong đó có ung thư, bệnh tim mạch và nhiều bệnh lý khác.

Bà cho rằng, cách duy nhất để bảo vệ sức khỏe trước những tác hại này là xây dựng môi trường công cộng không khói thuốc 100%, nơi mọi người lao động và bất kỳ ai có mặt đều có quyền được hít thở không khí sạch, không bị ô nhiễm bởi khói thuốc thụ động.

Đại diện WHO tại Việt Nam cũng cho biết, ngay cả tại các địa điểm có bố trí khu vực dành riêng cho người hút thuốc, khói thuốc vẫn có thể lan sang những không gian xung quanh, gây nguy cơ đối với sức khỏe của những người khác. Việc loại bỏ các khu vực dành riêng cho hút thuốc trong nhà là bước quan trọng để xây dựng môi trường thực sự không khói thuốc và bảo vệ sức khỏe của tất cả mọi người, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ mang thai và những người đang có bệnh lý nền.

Bên cạnh nguy cơ đối với sức khỏe, việc tiếp tục cho phép bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc tại một số địa điểm còn khiến quá trình thực thi pháp luật trở nên phức tạp. Trong đó, việc xác định phòng hút thuốc có thực sự đáp ứng yêu cầu kỹ thuật hay không vẫn là vấn đề đặt ra. Việc xây dựng, vận hành, kiểm tra và giám sát các khu vực này cũng làm tăng chi phí; đồng thời dễ xảy ra tình trạng khói thuốc lan ra ngoài khu vực được chỉ định, làm suy yếu thông điệp rằng các địa điểm công cộng trong nhà phải an toàn cho mọi người.

Theo WHO tại Việt Nam, việc tiếp tục tăng cường chính sách về môi trường không khói thuốc thông qua loại bỏ hoàn toàn các khu vực dành riêng cho hút thuốc trong nhà sẽ góp phần phát huy những thành quả Việt Nam đã đạt được trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Biện pháp này góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động, khách đến và tất cả những người cần sử dụng các địa điểm công cộng, đặc biệt là những nhóm dễ bị tổn thương, đồng thời phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam theo Công ước khung về kiểm soát thuốc lá.

Làm rõ trách nhiệm và thẩm quyền kiểm tra, xử lý vi phạm

Bên cạnh các quy định về địa điểm cấm hút thuốc, việc xác định rõ trách nhiệm kiểm tra và thẩm quyền xử lý vi phạm cũng là vấn đề được đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Tại phiên thảo luận về luật sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá sáng 21/10 trong Chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, PGS.TS Nguyễn Văn Ngọc, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Đà Lạt, cho rằng để ngăn chặn tình trạng hút thuốc tại nơi công cộng, một trong những giải pháp cần chú trọng là xác định rõ thẩm quyền kiểm tra và xử phạt, tránh tình trạng "ai cũng có trách nhiệm nhưng không ai trực tiếp làm".

PGS.TS Nguyễn Văn Ngọc, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Đà Lạt (Ảnh: quochoi.vn).
PGS.TS Nguyễn Văn Ngọc, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Đà Lạt (Ảnh: quochoi.vn).

Ông Ngọc đề xuất bổ sung quy định theo hướng Công an cấp xã là cơ quan trực tiếp kiểm tra, xử lý hành vi hút thuốc lá tại địa điểm cấm trên địa bàn; Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.

Đặc biệt, theo đề xuất, cơ quan, người có thẩm quyền được sử dụng hình ảnh, dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật và thông tin, hình ảnh do tổ chức, cá nhân cung cấp qua ứng dụng điện tử để phát hiện, xác minh và xử lý vi phạm.

PGS.TS Nguyễn Văn Ngọc cũng chỉ ra một bất cập khác liên quan đến trách nhiệm của người quản lý địa điểm. Theo ông, pháp luật không quy định chủ quán, người quản lý nhà hàng, bảo vệ bệnh viện, hiệu trưởng nhà trường có thẩm quyền xử phạt hành vi hút thuốc, nhưng lại quy định chế tài phạt từ 3 - 5 triệu đồng đối với người quản lý địa điểm nếu không tổ chức kiểm tra, đôn đốc.

"Trách nhiệm thì có, công cụ thì không", ông Ngọc nói.

Vì sao cần xây dựng môi trường không khói thuốc toàn diện?

Khói thuốc thụ động chứa khoảng 7.000 hóa chất, trong đó có khoảng 69 chất có khả năng gây ung thư. Không có mức phơi nhiễm khói thuốc thụ động nào được coi là an toàn.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có hơn 8 triệu người tử vong do thuốc lá, trong đó hơn 1,6 triệu người không hút thuốc tử vong do phơi nhiễm khói thuốc thụ động. Tại Việt Nam, tài liệu chuyên môn ước tính mỗi năm có khoảng 18.800 ca tử vong liên quan đến hút thuốc thụ động, trong đó khoảng 60% là phụ nữ.

Báo cáo toàn cầu về dịch thuốc lá năm 2025 của WHO tiếp tục xác định bảo vệ người dân khỏi khói thuốc là một trong sáu biện pháp cốt lõi thuộc gói chính sách MPOWER, gồm giám sát, bảo vệ, hỗ trợ, cảnh báo, thực thi và tăng thuế.

Thanh Hà