Sớm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vận tải
Tại Hội nghị đối thoại giữa Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) và các doanh nghiệp (DN) vận tải vừa diễn ra ở Hà Nội, nhiều DN phản ánh, ngoài những tác động tích cực trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, một số quy định trong các nghị định, thông tư lại đang làm khó cho các DN hoạt động trong ngành vận tải.
Tại Hội nghị đối thoại giữa Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) và các doanh nghiệp (DN) vận tải vừa diễn ra ở Hà Nội, nhiều DN phản ánh, ngoài những tác động tích cực trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, một số quy định trong các nghị định, thông tư lại đang làm khó cho các DN hoạt động trong ngành vận tải. Phóng viên ghi lại một số ý kiến chung quanh vấn đề này.
Chánh văn phòng Bộ GTVT Nguyễn Văn Công: Tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân và DN
Trong 63 thủ tục được cải cách trong lĩnh vực vận tải phương tiện giao thông đường bộ, nhiều thủ tục được đánh giá có tác động lớn đến đời sống xã hội, sản xuất kinh doanh của các DN và người dân, đặc biệt là việc giảm chi phí, thời gian đi lại. Nhóm thủ tục thứ nhất là việc kéo dài thời hạn của giấy phép lái xe (GPLX) loại A4, B1, B2 từ 5 năm lên 10 năm, GPLX loại C, D, E, F cũng được kéo dài từ 3 năm lên 6 năm. Nhóm thủ tục thứ hai cũng được đánh giá rất cao .
![]() |
| Xe chở hàng của Công ty TNHH thương mại và vận tải Hà Anh chờ tại bãi. Ảnh: Duy Lê |
Đó là quy định việc mở rộng thẩm quyền cho các cơ quan cấp, đổi lại GPLX. Theo quy định mới, việc cấp, đổi GPLX không phụ thuộc vào nơi cấp, người dân đến bất cứ địa phương nào trong cả nước đều có thể đổi được GPLX. Điều này ngoài việc tiết kiệm chi phí còn tạo thuận lợi cho những người thay đổi chỗ ở, chỗ làm việc. Nhóm thủ tục thứ ba là các quy định kéo dài thời hạn hiệu lực của các biển hiệu từ 6 tháng lên 7 năm, điều này cũng tiết kiệm được nhiều chi phí. Ngoài ra, các quy định về thay đổi cơ quan có thẩm quyền trong việc chấp thuận tuyến cố định trên 1000 km cũng được các DN vận tải đánh giá cao. Trước đây, việc chấp thuận tuyến cố định trên 1000km thuộc thẩm quyền của Tổng cục đường bộ Việt Nam, nhưng theo Nghị quyết 45 của Chính phủ, thẩm quyền này được chuyển giao cho Sở Giao thông Vận tải các tỉnh. Quy định này cũng được đánh giá đã đem lại cho DN những thuận lợi không nhỏ, đặc biệt là tiết kiệm thời gian và các chi phí trong việc đi lại.
Riêng Thông tư 14/2010/TT-BGTVT quy định về tổ chức và quản lý hoạt động vận tải bằng ô tô, trong đó có quy định đón trả khách đúng bến đã có nhiều ý kiến của DN đề nghị sửa đổi. Tuy nhiên, đây là vấn đề khá phức tạp, quan điểm của chúng tôi là vẫn giữ quy định này để đáp ứng yêu cầu của các loại hình vận tải khác nhau, đường dài hay vận tải xe buýt.
Ông Phạm Trọng Thịnh, Phó chủ tịch Thường trực kiêm tổng Thư ký Hiệp hội vận tải hàng hóa đường bộ Hải Phòng: Cần có chính sách phù hợp hơn nữa nhằm tạo điều kiện cho ngành vận tải hàng hóa phát triển
Hiện ở Hải Phòng đang có trên 550 DN làm dịch vụ vận tải hàng hóa bằng phương tiện xe đầu kéo rơ moóc. Hàng năm, các DN vận tải này đảm nhiệm vận chuyển khoảng trên 30 triệu tấn hàng hóa thông qua các cảng tại Hải Phòng. Đây là lực lượng vận tải chủ lực chiếm tới 75% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tại Hải Phòng. Trong tương lai, khi cảng biển quốc tế nước sâu Lạch Huyện (Hải Phòng) đi vào hoạt động, lượng hàng hóa cần vận chuyển sẽ càng lớn hơn. Chính điều này đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách thích hợp hơn nữa nhằm tạo điều kiện cho ngành dịch vụ này phát triển. Hiện đang nổi lên một số bất cập trong chính sách về GTVT đang làm cho nhiều DN vận tải đường bộ ở Hải Phòng nói riêng và ở các cảng biển trong cả nước nói chung khó khăn.
![]() |
| Nhiều doanh nghiệp vận tải của Hải Phòng còn gặp khó khăn trong việc qui định tải trọng trên các tuyến đường và nâng hạng lái xe. Ảnh: Duy Lê |
Thứ nhất, về quy định kiểm tra tải trọng xe. Theo quy định hiện nay, tổng tải trọng xe và hàng hóa không được quá 40 tấn, trong khi phần lớn các công ten nơ hàng đang nhập vào cảng Việt Nam theo thông lệ quốc tế thường có trọng lượng từ 35 - 38 tấn/ công ten nơ, nên khi xếp hàng lên công ten nơ thì tổng tải trọng của phương tiện đều lên tới 48-50 tấn/phương tiện (vượt quy định khoảng 10 tấn). Về phương pháp kiểm tra tải trọng hiện cũng còn nhiều bất cập.
Ngoài việc cân tổng trọng tải của phương tiện, các trạm cân còn thực hiện phương pháp cân tải trọng theo đầu trục xe. Đây là một đòi hỏi mà người làm dịch vụ vận chuyển rất khó thực hiện, nhất là đối với những hàng đóng trong công ten nơ. Việc quy định đối với những rơ moóc và sơ mi rơ moóc đã có thời hạn sử dụng trên 20 năm theo quy định phải thực hiện kiểm định 3 tháng/lần tại cơ quan đăng kiểm là không cần thiết đối với loại thiết bị giản đơn như rơ moóc. Quy định này đã gây khó khăn và tốn kém cho DN và là nguyên nhân dễ nảy sinh tiêu cực trong khâu kiểm định.
Thứ hai, các quy định về việc đào tạo nâng cấp giấy phép lái xe (GPLX) hạng FC sau khi đã 2 lần giãn lộ trình đào tạo giấy phép lái xe hạng FC theo quy định tại Thông tư 977 của Bộ GTVT, theo tôi cũng không cần thiết. Chỉ cần quy định tiêu chuẩn người lái xe đã có GPLX hạng C và đã điều khiển xe công ten nơ từ 6 tháng trở lên sẽ được dự thi thực hành để được xét cấp GPLX hạng FC là bảo đảm yêu cầu, mà không cần tính tới thâm niên tay nghề, vì trên thực tế nhiều khi thâm niên đối với nghề lái xe vẫn chưa hẳn đã khẳng định được năng lực kỹ thuật chuyên môn.
Tiếp theo, các quy định về điều kiện cho mặt bằng xây dựng bến bãi đỗ đậu xe cũng đang gây khó khăn cho DN. Theo quy định của Nghị định 91, các DN phải có bến bãi đỗ đậu xe như một điều kiện bắt buộc để DN vận tải được phép hoạt động. Về lý thuyết đây là một quy định cần thiết, nhưng trên thực tế hiện nay yêu cầu này là cực kỳ khó khăn đối với nhiều DN vận tải đường bộ. Ngay hiệp hội chúng tôi từ hơn 5 năm nay thường xuyên xin đất làm bến bãi đỗ đậu xe cho các DN hội viên, nhưng vẫn chưa xin được. Với thực tế trên, Hiệp hội vận tải hàng hóa đường bộ Hải Phòng kiến nghị Nhà nước sớm tháo gỡ những bất cập cho DN.
Quang Toàn thực hiện

