Siết quản lý chất thải y tế tại địa phương
(PLVN) - Dù khung pháp lý về quản lý chất thải y tế đã được thiết lập tương đối đầy đủ, thực tiễn triển khai tại nhiều địa phương vẫn bộc lộ những “khoảng trống”, đặc biệt trong thu gom, vận chuyển và xử lý sau thay đổi đơn vị hành chính.
Bộ Y tế yêu cầu siết quản lý chất thải y tế
Theo Bộ Y tế, thực hiện các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường; Thông tư số 20/2021/TT-BYT ngày 26/11/2021 của Bộ Y tế quy định về quản lý chất thải y tế trong phạm vi khuôn viên cơ sở y tế và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, các cơ sở y tế đã triển khai thực hiện công tác quản lý chất thải y tế cơ bản đáp ứng theo quy định.
Tuy nhiên, qua báo cáo công tác quản lý chất thải y tế và kiểm tra thực tế tại địa phương, đơn vị trong năm 2025 cho thấy một số địa phương chưa ban hành hoặc chưa thống nhất quy định về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải y tế trên địa bàn sau khi có sự thay đổi về đơn vị hành chính, một số đơn vị chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý chất thải y tế, chưa bố trí đủ kinh phí để xây dựng, cải tạo và vận hành thường xuyên hệ thống xử lý nước thải y tế. Cùng đó, công tác tự kiểm tra, giám sát việc thực hiện chưa được thường xuyên, chưa kịp thời khắc phục các tồn tại về quản lý chất thải y tế; chưa bảo đảm chế độ báo cáo theo quy định.
Bộ Y tế đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc thực hiện các nội dung như: Rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải y tế trên địa bàn phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và đơn vị hành chính mới; Bố trí kinh phí để đầu tư, nâng cấp, cải tạo hệ thống xử lý nước thải cho các cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh chưa có hệ thống xử lý nước thải y tế hoặc đã quá tải, xuống cấp để bảo đảm việc xử lý nước thải y tế đạt Quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả thải.
Cấp thiết lấp đầy “khoảng trống” pháp lý tại địa phương
Theo quy định hiện hành, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đặt ra nguyên tắc quản lý chất thải theo vòng đời, yêu cầu phân loại tại nguồn, kiểm soát chặt chẽ từ khâu phát sinh đến xử lý cuối cùng. Trên nền tảng đó, các văn bản hướng dẫn đã cụ thể hóa trách nhiệm của từng chủ thể, từ cơ sở y tế, đơn vị vận chuyển đến cơ quan quản lý địa phương.
Đặc biệt, Thông tư 20/2021/TT-BYT quy định chi tiết việc phân loại, thu gom, lưu giữ, quản lý chất thải y tế trong phạm vi khuôn viên cơ sở y tế, đã đi sâu vào hướng dẫn cụ thể từng khâu kỹ thuật - từ phân định chất thải y tế, phân loại tại nguồn, tần suất thu gom hằng ngày, giới hạn thời gian lưu giữ đến yêu cầu vận hành hệ thống xử lý và chế độ báo cáo định kỳ.
Thực tế cho thấy, khi địa giới hành chính thay đổi, nếu các quy định không được rà soát, cập nhật và thống nhất kịp thời, toàn bộ chuỗi quản lý - từ phân loại, thu gom đến vận chuyển và xử lý dễ rơi vào trạng thái chồng chéo hoặc bỏ ngỏ. Đây chính là điểm yếu cần được nhận diện rõ để có giải pháp khắc phục căn cơ.
Theo đó, yêu cầu tiên quyết là cần chuẩn hóa lại hệ thống quy định ở cấp địa phương. Các tỉnh, thành phố không chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản, mà cần bảo đảm tính khả thi và đồng bộ giữa các khâu. Quy định về thu gom phải gắn với năng lực vận chuyển; quy định về vận chuyển phải phù hợp với hệ thống xử lý; và toàn bộ chuỗi này phải được thiết kế theo điều kiện thực tế của từng địa bàn.
Một vấn đề nổi lên là sự thiếu liên thông giữa các đơn vị sau khi sắp xếp lại hệ thống hành chính. Khi địa bàn quản lý thay đổi nhưng quy trình cũ vẫn được áp dụng, nguy cơ “đứt đoạn” trong vận hành là khó tránh khỏi. Điều này đặc biệt rõ trong hoạt động vận chuyển chất thải y tế liên tuyến, nơi yêu cầu sự phối hợp giữa nhiều đơn vị, nhiều cấp quản lý. Do đó, việc ban hành quy định mới cần đi kèm với thiết lập cơ chế phối hợp rõ ràng, tránh tình trạng “mỗi nơi làm một kiểu”.
Trong định hướng dài hạn, việc hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải y tế gắn với đầu tư công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành xu hướng. Các cơ sở y tế từng bước nghiên cứu ứng dụng phần mềm chuyên biệt nhằm số hóa hồ sơ, theo dõi quá trình phát sinh, thu gom và xử lý chất thải. Khi dữ liệu được cập nhật và quản lý tập trung, công tác giám sát trở nên minh bạch, kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giám sát mà còn hỗ trợ phát hiện sớm các “điểm nghẽn” trong hệ thống, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời.