Siết chặt quản lý đầu tư, khai thác cảng cạn theo Nghị định mới

Siết chặt quản lý đầu tư, khai thác cảng cạn theo Nghị định mới
Ảnh minh họa.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 106/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về đầu tư xây dựng, quản lý khai thác cảng cạn, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch cho lĩnh vực hạ tầng logistics quan trọng này.

Nghị định số 106/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định cụ thể về hoạt động đầu tư xây dựng, quản lý và khai thác cảng cạn tại Việt Nam; áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan.

Theo đó, các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng cảng cạn phải tuân thủ đầy đủ quy định của Nghị định này, đồng thời chấp hành các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và các quy định pháp luật có liên quan. Đáng chú ý, việc đầu tư xây dựng cảng cạn phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn và các quy hoạch liên quan, nhằm tránh đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả.

Hoàn thiện tiêu chuẩn hạ tầng cảng cạn

Nghị định dành một điều khoản quan trọng quy định rõ về kết cấu hạ tầng cảng cạn. Cụ thể, tại Điều 7, kết cấu hạ tầng cảng cạn được xác định là hệ thống các công trình, cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư xây dựng phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, phục vụ đầy đủ các chức năng của cảng cạn.

Các hạng mục chính bao gồm: hệ thống kho, bãi hàng hóa; các công trình đảm bảo an ninh, trật tự và kiểm soát người, hàng hóa, phương tiện ra vào cảng như cổng, tường rào, thiết bị giám sát, kiểm tra của hải quan; khu vực bãi đỗ xe và trang thiết bị bốc xếp; hệ thống giao thông nội bộ và kết nối với mạng lưới giao thông bên ngoài; cùng khu văn phòng điều hành và làm việc của các cơ quan chức năng như hải quan, kiểm dịch.

Việc quy định rõ các cấu phần hạ tầng không chỉ góp phần chuẩn hóa mô hình cảng cạn mà còn nâng cao hiệu quả vận hành, đảm bảo an ninh, an toàn và đáp ứng yêu cầu hội nhập trong lĩnh vực logistics.

Tăng cường giám sát quy hoạch và thủ tục mở cảng

Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định là cơ chế giám sát chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch phát triển cảng cạn. Trước khi chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, cơ quan có thẩm quyền phải lấy ý kiến của Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam về sự phù hợp của dự án với quy hoạch.

Nội dung xin ý kiến phải nêu rõ vị trí, quy mô, chức năng, diện tích và công suất của cảng cạn. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam có trách nhiệm trả lời bằng văn bản, bảo đảm tiến độ xử lý hồ sơ.

Đối với thủ tục công bố mở cảng cạn, chủ đầu tư có thể nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Hồ sơ gồm nhiều thành phần quan trọng như tờ khai mở cảng, quyết định phê duyệt dự án, giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình, bản vẽ hoàn công và quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Trong quá trình xử lý, nếu hồ sơ chưa hợp lệ, trong vòng 2 ngày làm việc, cơ quan tiếp nhận phải có văn bản yêu cầu bổ sung, hoàn thiện. Trường hợp hồ sơ đầy đủ, trong 4 ngày làm việc, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam sẽ thẩm định và trình Bộ Xây dựng xem xét công bố mở cảng cạn.

Sau đó, trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận đề nghị, Bộ Xây dựng quyết định công bố mở cảng cạn hoặc trả lời bằng văn bản nếu không chấp thuận. Quyết định được cấp dưới dạng bản giấy và bản điện tử, có giá trị pháp lý như nhau.

Quy định rõ các trường hợp tạm dừng, đóng cảng cạn

Bên cạnh việc siết chặt đầu tư và vận hành, Nghị định cũng quy định cụ thể các trường hợp tạm dừng hoạt động và đóng cảng cạn nhằm đảm bảo an toàn và lợi ích công cộng.

Theo đó, cảng cạn có thể tạm dừng hoạt động để phục vụ công tác bảo dưỡng, sửa chữa hoặc thực hiện các yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Việc đóng cảng cạn được áp dụng trong các trường hợp như: phục vụ yêu cầu quốc phòng, an ninh; hoạt động khai thác tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, gây sự cố ảnh hưởng đến con người, công trình lân cận, môi trường và cộng đồng; hoặc khi dự án đầu tư chấm dứt theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do doanh nghiệp không còn nhu cầu khai thác.

Với các quy định cụ thể, chặt chẽ và rõ ràng, Nghị định số 106/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời thúc đẩy phát triển hệ thống cảng cạn đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển logistics và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn mới.

Hồ sơ công bố mở cảng cạn, bao gồm:

a) Tờ khai về việc mở cảng cạn theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; b) Bản sao hoặc bản sao điện tử Quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cảng cạn được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật hoặc bản sao hoặc bản sao điện tử văn bản hoặc Quyết định công nhận địa điểm thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của cơ quan có thẩm quyền (đối với trường hợp công bố địa điểm làm thủ tục hải quan thành cảng cạn); c) Bản sao hoặc bản sao điện tử các giấy tờ hợp pháp chứng minh về quyền sử dụng đất theo quy định. Tổ chức, cá nhân không phải nộp các giấy tờ hợp pháp chứng minh về quyền sử dụng đất khi cơ quan giải quyết thủ tục hành chính khai thác được thông tin trên Cơ sở dữ liệu quốc gia; d) Bản sao hoặc bản sao điện tử Biên bản nghiệm thu hoàn thành đưa công trình cảng cạn vào sử dụng kèm theo bản vẽ mặt bằng hoàn công các công trình chủ yếu quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định này; đ) Bản sao hoặc bản sao điện tử Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án theo quy định.

Việc đóng cảng cạn được thực hiện trong trường hợp sau:

a) Vì lý do bảo đảm quốc phòng, an ninh; b) Việc khai thác cảng cạn có nguy cơ gây mất an toàn, gây sự cố công trình ảnh hưởng đến an toàn của người sử dụng, an toàn của công trình lân cận, môi trường và của cộng đồng; c) Dự án đầu tư cảng cạn chấm dứt theo Quyết định của cơ quan đăng ký đầu tư hoặc chủ đầu tư, doanh nghiệp khai thác cảng cạn không có nhu cầu tiếp tục khai thác cảng cạn

Hồng Quân