Sau cơn binh lửa
Truyện ngắn của PHAN ĐỨC NAM
Cuối tháng 12-1974. Đại đội tôi rút về huyện Phù Mỹ (Bình Định). Tôi được bố trí giữ làng Mỹ Phong. Dân sống ở làng này nửa theo quốc gia, nửa theo giải phóng. Ban ngày lính Cộng hòa giữ làng, tối rút ra ven rừng vừa canh phòng, vừa ngủ.
Chiều đó, tôi dẫn trung đội 1 và 2 đến một ngôi trường nhỏ. Chúng tôi dàn quân bố trí, trải mùng mền… Nhưng tối đến, tôi ra lệnh cuốn chăn chiếu lỏn đi nơi khác - nghĩa là “dương đông kích tây”, đề phòng bị mật báo sẽ dễ ăn đạn pháo kích.
Trong lúc lòn quân đi kích lối khác, tôi gặp ánh đèn xa xa đang băng tắt đường ruộng, liền ra lệnh ém quân hai bên vệ đường cái nằm phục chờ xem ai đó. Theo luật tại đây: Tối không ai được ra đường. Có việc cần thiết muốn đi thì phải cầm đèn, nếu không sẽ bị lính bắn chết vô tội vạ.
Khi ánh đèn tới gần, tôi nhận ra đó là một bà già, tay cầm đèn bão, tay cầm cái kiềng sắt ba chân. Lính tôi hỏi: “Bà đi đâu?”. Bà ta trả lời: “Các ông cho tôi đem kiềng trả đứa con dâu. Tôi mượn nó nấu bánh tét, bữa nay tối 30 rồi…”. Tôi gật đầu, nói: “Bác tắt đèn đi. Đi chung với lính, bác không cần thắp đèn”. Thật ra có ánh đèn, chúng tôi dễ bị lộ. Tôi nắm tay bà già lần đi trong đêm tối mà nhớ mẹ mình, nhớ ngoại mình, tôi hỏi bà: “Năm nay bác ăn Tết lớn không?”. Bà già thở dài: “Ăn Tết cho qua cậu ơi! Chiến tranh lớn làm sao ăn Tết vui được.” - “Dạ! Tụi con mấy ngày Tết mà còn phải đi kích đây nè. Nhớ vợ nhớ con quá trời!”. Bà già hỏi thăm qua gia cảnh tôi, tôi cũng vui vẻ giải tỏa tâm sự …
Tôi đưa bà già đến tận nhà, biếu bà hai hộp thịt: “Con mới lĩnh quà Tết quân tiếp vụ, bác cầm lấy ăn Tết nghe.” Bà già cảm ơn. Tôi tiếp tục dẫn quân đi, lòng cảm thấy vui vui.
Đến một căn nhà hoang không còn mái, do bom đạn phá tanh bành hết, chỉ còn lại vài bức tường loang lổ. Tôi nói với chuẩn úy Phước: “Mày dàn lính phía bên trong, tao dàn lính nằm áp lộ. Chút nữa tao với mày vào trong cái nhà đó ngủ, nói mấy thằng tài-lọt chuẩn bị đồ ăn Tết, uống chút rượu mừng năm mới. Năm nay hai bên ngưng chiến 24 giờ ăn Tết mà. Kích thì phải kích chớ không có gì đâu.”
Đúng 12 giờ đêm, chúng tôi nghe tiếng pháo và súng nổ giòn giã phía Bộ chỉ huy Chi khu, Tiểu khu, Tiểu đoàn… À! Các sếp cho lịnh bắn súng thay pháo mừng giao thừa. Những làn đạn lửa đỏ rực bay đan trên trời, hỏa châu thắp sáng thay pháo hoa… Phải vậy chớ! Ai đâu lấy pháo đạn đi bắn nhau…
Dân ở quanh chỗ tôi nằm kích không có pháo đốt mừng đón xuân, mà chúng tôi cũng ra lịnh không được đốt pháo - sợ cộng quân lợi dụng tiếng pháo bất ngờ tấn công như năm Mậu Thân. Hai trung đội chúng tôi nằm kích im phăng phắc, tôi và Phước nằm ngửa mặt lên trời ngắm hỏa châu và nghe súng nổ râm ran. Súng nổ không chết ai, vui quá!
“Mai mốt hòa bình, Tết chắc vui lắm hén!” - Tôi nói với Phước vậy. Phước “Ờ…” rồi im lặng! Nó cũng đang nhớ nhà. Mãi sau Phước mới nói với tôi: “Hòa bình… ông tới nhà tui chơi nghe?...” Tôi cười: “Tới chớ. Mà mày phải tập uống rượu, và tới nhà tao trước.”
Tiếng súng thay pháo thưa dần, nhưng khoảng một tiếng sau, những tràng nổ lại giòn giã. Lần này toàn tiếng AK và CKC… Tôi và Phước bật dậy. Đám lính nhiều đứa đang nằm ngửa ngắm sao trời cũng lật mình ôm súng. Thiệt hú hồn! Quân du kích và quân giải phóng đang nằm gần chúng tôi, tiếng súng nổ nghe lớn vậy nghĩa là họ chỉ cách chúng tôi chừng năm chục mét…
Người dân sống trong vùng tranh chấp phải hết sức khôn khéo, lính cộng hòa như tôi đóng quân vùng đó càng phải linh động khôn khéo hơn, vì chúng tôi dễ bị bắn tỉa bất cứ lúc nào.
Mấy ngày Tết chúng tôi cũng phải ra bìa rừng chia quân kích tại đó, rồi phải gài mìn bảo vệ khu vực chung quanh. Những lúc ở trong làng, chúng tôi bám vô những nhà có người theo giải phóng. Bám vào nhà có người thoát ly rất có lợi, một là kiểm soát được gia đình đó, hai là con cháu họ đi du kích dẫn quân giải phóng về không dám tấn công vào nhà mình, sợ chết người thân.
Ngày đầu chúng tôi đến đóng ở làng Mỹ Phong này, sáng vừa tới thì chiều bộ đội đã đánh phủ đầu. Nhưng lính Thần Hổ cũng đâu có vừa, lại được yểm trợ vũ khí mạnh nên quân giải phóng ban ngày tấn công không nổi, đành đêm đến mò vào bắn tỉa. Do đó đêm nào chúng tôi cũng phải ra ngoài kích.
Tôi biết mình sống ở vùng đất này, nếu dân ghét là trước sau cũng chết, nên hết sức cẩn thận, hòa hoãn với mọi người. Do đó tôi được nhiều người mến, thỉnh thoảng họ đem cá, gạo, bánh trái cúng giỗ đến tặng.
Một bữa trưa ngày rằm tháng giêng, có một bà già đi ngang qua tôi và nói nhỏ: “Ông giả bộ đi vệ sinh, ra vườn sau tui sẽ nói chuyện”. Tôi gật đầu, trong vườn phía sau có lính của tôi đang phục. Tôi ra trước, khoảng 5 phút sau bà già ra tới, bà kể: “Ông không nhớ tui đâu. Tui là người cầm đèn với cái kiềng đi tối 30 đó.”
Tôi nhìn lại bà già, bà cười: “Bữa đó ông tốt quá! Nói thiệt, con tui là du kích trong tổ bắn tỉa tam tam. Tối đó nó đang canh bắn ông…” Tôi giựt mình: “Vậy sao?” Bà già gật: “Nó được phân công bắn ông trước giao thừa để ăn mừng năm mới. Nhưng hên cho ông là bữa đó lính đi kích đông quá! Mọi lần đi có một trung đội, mà sao hôm đó đi tới hai trung đội. Nếu nó bắn ông rồi thì sẽ bị trung đội phía sau chận bắt. Mà bữa đó vô tình tui lại đi bên cạnh ông, nó bắn không lộn đâu, nhưng lo cho tui…”
Tôi toát mồ hôi! Vậy ra đêm giao thừa đó tôi thoát chết là nhờ bà già này mà không hay…
Bà già kể tiếp: “Đêm đó thằng con tui về, nó hỏi sao má đi với thằng cha chuẩn úy đó? Tôi nói ông chuẩn úy trẻ đó tốt lắm, cho má hai hộp thịt ăn Tết đây nè. Người ta cũng vì hoàn cảnh mà phải đi lính. May mà con chưa bắn ổng, chớ má biết con bắn ông ta thì má đau lòng và ân hận lắm!”. Tôi cứ thẫn thờ ngồi nghe, rồi hỏi: “Bác kể chuyện này với tôi làm chi?...” Bà già nói: “Cũng vì chuyện đêm đó con tui không bắn ông, mấy ông chỉ huy bên cách mạng trách nó không can đảm lập chiến công mừng Xuân. Mấy ổng không biết bữa đó lính theo ông đông. Đêm sau có người trong tổ tam tam vô nhà tui, thấy lon thịt mà bữa đó ông cho, họ nghi má con tui ngả theo lính cộng hòa…”. Tôi gật đầu, bà già kể tiếp: “Thằng con tui mấy bữa sau nói với tui: Mấy ổng giao cho con tiếp tục theo dõi bắn tỉa ông chuẩn úy đó. Mấy ổng chỉ huy muốn xác định lập trường của con. Con kể lại chuyện má nói với con, và xin mấy ổng chuyển nhiệm vụ bắn tỉa đó cho người khác. Có ông nói: Anh đã tiết lộ chuyện này cho má anh, thì thế nào má anh cũng tìm cách nói cho tên chuẩn úy ngụy đó đề phòng. - Bà già kể tới đây nhìn tôi - Vậy đó. Con tui thấy mấy ổng không tin tưởng mình nữa, nên chán nản, vả lại trong rừng khổ lắm! Nó muốn… hồi chánh. Bữa nay tui muốn gặp ông là để nhờ ông chuyện đó”. Tôi sốt sắng: “Bác hãy nói anh ta về đi, con nhận”. Bà già gật đầu: “Khoảng mười giờ rưỡi sáng mai, nó sẽ bận đồ màu xanh, mang nón lá, tay cầm cuốc bang đất ở ruộng phía bên kia, chỗ gần cây đa. Các ông làm ơn cho kích và nổ súng bắt nó, chớ nếu không gia đình tôi bị làm khó, không ở đây được…”
Sáng hôm sau, y như sự sắp xếp, chúng tôi “bắt” được anh con trai của bà già.
Tôi ra lịnh “cột” anh ta, tống lên xe rồi chở lên tỉnh. Coi như anh ta bị bắt, bị thủ tiêu hay giam ở đâu đó.
Còn bà già vẫn ở đó với gia đình, tôi không dám vô nhà bà. Có lần gặp bà đi chợ, bà tránh nhìn tôi, tôi không dám dúi cho bà chút quà gì đó, tôi chỉ nhìn lướt qua như người xa lạ, rồi quay đi…
Đầu tháng 3-1975, quân giải phóng tổng tấn công miền Nam, tiểu đoàn 231 của tôi được máy bay bốc ra Buôn Mê Thuột giải cứu cho hai sư đoàn 22 và 23 đang bị vây khốn.
Đó là đòn nhử, mục đích của quân giải phóng tại đây là vây để chờ phục đánh lực lượng tiếp cứu. Tiểu đoàn Thần Hổ 231 vừa đổ quân xuống đã bị đánh úp tiêu sạch gần như xóa sổ. May cho tôi lúc đó đang nằm quân y viện.
Ngày 16-3-1975, tôi mang chân giả lủi thủi theo đoàn quân chiến bại rút về Phan Rang, chính thức cởi áo quân nhân. Đời lính của tôi - kể cả 6 tháng quân trường, vỏn vẹn chỉ hơn hai năm. Hai năm mà xảy ra biết bao biến cố, nguy hiểm dồn dập. Hai năm dài thăm thẳm!
Sau giải phóng 1975, cỡ chuẩn úy như tôi, lại mất bàn chân trái nên chỉ đi học tập chính sách 7 ngày tại địa phương.
Cuối năm đó, gia đình tôi đang chuẩn bị đón cái Tết hòa bình đầu tiên sau giải phóng, thì có một người đàn ông mặc quân phục, đeo quân hàm cấp úy đến tận nhà tìm tôi.
Tôi còn đang thắc mắc thì anh sĩ quan trẻ ấy nói: “Anh quên tui rồi sao? Tui là người bắn tỉa trong tổ tam tam đây nè.” Tôi giựt mình! Anh cười: “Mấy ông chỉ huy tui đã tương kế tựu kế, đưa tui vô hàng ngũ các anh - và anh là người đã viết giấy bảo lãnh tui hồi chánh đó.” Tôi nhìn anh ta từ đầu tới chân… Thì ra vậy!...
Tôi hỏi một câu ngô nghê: “Sao anh… biết nhà tôi?...” Anh cười lửng lơ: “Ăn thua mình có muốn biết hay không.”
Sau đó, anh lì xì con gái tôi hai phong lương khô, tặng mẹ tôi xấp vải, và tôi gói thuốc lá Sông Cầu. Chúng tôi uống với nhau ly rượu cuối năm. Tôi hỏi: “Bà già anh khỏe không?” Anh gật: “Mẹ tôi lâu lâu vẫn nhắc tới anh.”
Anh nhìn sâu vào cái chân cụt của tôi. Cái nhìn ái ngại. Anh nói: “Chân cẳng vầy… có đau lắm không?”. Tôi đáp khẽ: “Chỉ khi trở trời… Nhưng đi lại thì cực…”. Anh thở một hơi dài nhè nhẹ rồi ngồi xuống đưa tay nắn mỏm xương cụt của tôi. Bàn tay anh thật chắc. Và ấm. Rồi anh chào về.
Quãng hơn tháng sau anh trở lại. Trong tay anh là đôi nạng gỗ. Thuở ấy, kiếm được đôi nạng bằng gỗ xịn còn khó hơn cả mua xe hơi. Thương phế binh ngụy như tôi làm sao mơ. Vậy nên tôi quý đôi nạng như cặp chân mình vậy. Tôi không dám nói ra, bởi sợ anh liên lụy, nhưng bụng vẫn thầm ơn ân nhân.
Thế rồi một ngày anh lại đến nhà tôi - đến bằng xe hơi. Anh diện sơ-vin khiến tôi ngạc nhiên. Anh cười: “Tôi chuyển ngành rồi. Hôm nay tới mời anh ra làm việc với tôi”. Tôi chưa hết mặc cảm bởi thân phận nên còn lưỡng lự. Nhưng anh đã kéo tôi lên xe, vừa cười, vừa nói át đi: “Tôi bảo lãnh lại anh mà. Yên tâm.”
Thì ra giờ anh là giám đốc một xí nghiệp sản xuất chân tay nhân tạo dành cho thương, bệnh binh. Việc anh đề nghị tôi làm thật đơn giản, là đo những chân cụt để khớp mẫu cho vừa. Mẫu đầu tiên anh bảo tôi làm là… chân tôi. Tôi còn dè dặt thì anh nói: “Anh đừng ngại. Là người thương tật nên anh hiểu nỗi đau hơn người thường. Anh làm chắc ngon!”
Chúng tôi làm việc với nhau từ đó đến nay. Chúng tôi đã sản xuất hàng vạn bộ chân tay. Không chỉ cho những người thương binh đang hưởng chính sách mà cả những thương phế binh quân đội cộng hoà. Anh hay nhìn theo những dáng người vui mừng ngượng nghịu đi trên những chiếc chân giả do chúng tôi làm ra và nói: “Chiến tranh qua rồi, phải giúp họ có đôi chân để làm ăn chứ”…
