Sàng lọc các ngân hàng
Giá tiền đồng đang lên khi Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại lên 11%; thắt chặt cho vay chứng khoán bằng QĐ 03, cảnh báo nguy cơ và khống chế khi cho vay bất động sản, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và gần đây nhất là yêu cầu các ngân hàng phải mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu ngân hàng... Ngay lập tức, các ngân hàng có phản ứng và ngân hàng nào yếu bị “ hắt hơi, sổ mũi” ngay.
Việc tăng lãi suất huy động tiền gửi và tiền vay diễn ra sau khi Ngân hàng Nhà nước ban hành các quyết định vài ngày thực sự là cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa ngân hàng thương mại quốc doanh và ngân hàng cổ phần. Trong đó, nhiều ngân hàng cổ phần chạy theo tăng trưởng tín dụng phải chịu “ quả đắng” khi không đủ tiền dự trữ bắt buộc theo tỷ lệ, khi phải dành tiền mua tín phiếu ngân hàng bắt buộc, khi chưa thu hồi được các khoản nợ và khi dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản lên cao quá mức cho phép... Vì thế, họ chỉ còn cách trông chờ vào thị trường tiền tệ liên ngân hàng, phải chấp nhận một mức lãi suất cao chưa từng thấy, có lúc lên tới 43%/ năm.
Trong khi đó, nhiều ngân hàng thương mại quốc doanh và ngân hàng cổ phần lớn vẫn ung dung bởi có tiềm lực lớn, nguồn vốn dồi dào, có biện pháp quản lý rủi ro và tỷ lệ tăng trưởng tín dụng hợp lý. Tại Hải Phòng, đó là các Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Ngoại thưng, Ngân hàng Công thưng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Á châu, Ngân hàng Quốc tế... Các khách hàng truyền thống của các ngân hàng này vẫn được vay vốn bình thường, tuy lãi suất có thể tăng nhưng không đáng kể so với các ngân hàng khác và tăng theo quy luật của thị trường. Còn khách hàng của một số ngân hàng cổ phần nhỏ, có nguồn tài chính không vững chắc phải vay với mức lãi suất cao, có khi tới 1,4 - 18% / tháng, cao hơn nhiều so với mức 1,2% mà ngân hàng Nhà nước đang áp dụng.
Muốn nói gì thì nói nhưng có một thực tế là giá tiền đồng đang lên. Lãi suất tiền gửi tăng thì lãi suất tiền vay cũng tăng. Có điều, tăng theo mức nào và tăng bao nhiêu lại phụ thuộc vào tiềm lực của các ngân hàng. Đến thời điểm này, có thể thấy rõ ngân hàng nào còn tiền, ngân hàng nào khó khăn. Ngân hàng cổ phần dâng lãi suất huy động lên cao nhưng lãi suất cho vay cũng tăng tương ứng, thậm chí còn cao hơn. Ngân hàng quốc doanh tăng chậm hơn nhưng doanh nghiệp cũng đỡ “ choáng” vì lãi suất tiền vay. Đây là sự sàng lọc bước đầu đối với các tổ chức tín dụng. Nhờ đó, các khách hàng có thể kiểm chứng và chọn lựa ngân hàng nào phục vụ tốt, tài chính minh bạch.
Mục tiêu của Chính phủ khi siết chặt các biện pháp quản lý tiền tệ là giảm lạm phát, bảo đảm yêu cầu tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, tránh rủi ro. Vì thế, trước mắt, sự tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng năm 2008 sẽ chậm lại, thậm chí có ngân hàng sẽ không cân đối được thu- chi. Nhưng làm thế nào để giá tiền đồng tăng nhưng giá hàng hóa không tăng cao quá mức mới đạt được yêu cầu mong muốn. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách điều hành tiền tệ linh hoạt của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Dù thế nào đi chăng nữa thì các ngân hàng tại Hải Phòng còn có bước đi đúng đắn góp phần thiết thực vào sự tăng trưởng kinh tế một cách bền vững của thành phố.
Trọng Nhân