Rắc rối nhận diện thủ phạm vận chuyển thuốc nổ tại Quảng Ninh
Quỳ đã bị bắt khẩn cấp và khởi tố bị can để điều tra về hành vi “vận chuyển trái phép vật liệu nổ”. Trên cơ sở cho các CSGT nhận dạng (qua ảnh), xác định “nghi phạm” Quỳ có nhiều nét giống người lái xe đã bỏ chạy nên các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) tỉnh Quảng Ninh cho rằng Quỳ chính là người điều khiển xe ô tô 16K- 3635 chở thuốc nổ. Số thuốc nổ này, Quỳ không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp nên bị kết luận là… “vận chuyển trái phép”.
Mới đây, TAND tỉnh Quảng Ninh tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Quỳ (SN 1972, trú tại thôn Pháp Cổ, xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên - Hải Phòng) 16 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép vật liệu nổ”. Đây là một vụ án được khám phá theo dạng “truy xét” và bị cáo chối tội nên việc kết tội chủ yếu dựa trên cơ sở “nhận dạng” của các Cảnh sát giao thông (CSGT). Liệu việc nhận dạng này có đủ cơ sở để khẳng định Quỳ chính là người đã “bỏ của, chạy lấy người” khi bị CSGT dừng xe, kiểm tra xe ô tô chở thuốc nổ?
Thủ phạm “bỏ của, chạy lấy người”
Vụ án được khám phá vào rạng sáng ngày 3/10/2009, khi lực lượng CSGT công an tỉnh Quảng Ninh đuổi bắt một xe ô tô 7 chỗ có dấu hiệu vi phạm luật giao thông. Chiếc xe vi phạm bị dừng tại địa bàn xã Đại Yên, huyện Yên Hưng nhưng thay vì xuất trình giấy tờ cho CSGT, người lái xe đã bất ngờ bỏ chạy, để lại chiếc xe ô tô BKS 16K- 3635 cùng 2.400 thỏi (480kg) thuốc nổ Anômít (do Việt Nam sản xuất).
Qua rà soát các đời chủ xe, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh xác định, người sở hữu chiếc xe ô tô nói trên từ thời điểm tháng 8/2008 là Nguyễn Văn Quỳ. Ngay sau đó, Quỳ đã bị bắt khẩn cấp và khởi tố bị can để điều tra về hành vi “vận chuyển trái phép vật liệu nổ”. Trên cơ sở cho các CSGT nhận dạng (qua ảnh), xác định “nghi phạm” Quỳ có nhiều nét giống người lái xe đã bỏ chạy nên các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) tỉnh Quảng Ninh cho rằng Quỳ chính là người đã điều khiển xe ô tô 16K- 3635 chở thuốc nổ. Số thuốc nổ này, Quỳ không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp nên bị kết luận là… “vận chuyển… trái phép”.
Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Quỳ không thừa nhận hành vi vận chuyển thuốc nổ như quy kết của cơ quan điều tra (CQĐT) và Viện Kiểm sát (VKS). Ngoài việc chối tội, bị cáo này còn đưa ra nhiều chi tiết nhằm chứng minh cho việc ngoại phạm của mình nhưng đều bị bác bỏ.
Trước diễn biến này, Luật sư Nguyễn Đình Khoẻ (Đoàn LS Hà Nội) phát biểu: “Đây là vụ án “truy xét” nên cần phải rất thận trọng khi đánh giá các chứng cứ gián tiếp. Lẽ ra, phải tập trung vào việc tìm chứng cứ chứng minh bị cáo là người vận chuyển thuốc nổ, xem số thuốc nổ này có nguồn gốc bất hợp pháp hay không thì CQTHTT lại đi “quá đà” vào việc bác bỏ chứng cứ ngoại phạm của bị can. Trong khi đó, bị can, bị cáo không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình nên dù giả sử có bác bỏ chứng cứ ngoại phạm của bị cáo thì cũng không thể kết luận rằng, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội”.
Chứng cứ buộc tội có thuyết phục?
Để khẳng định bị cáo Quỳ chính là người lái xe ô tô 16K- 3635 vào rạng sáng 3/10, CQTHTT đã dựa vào nhận dạng của CSGT qua ảnh của nghi phạm. Tuy nhiên, chỉ có 2/4 CSGT trong ca trực tối hôm đó xác nhận rằng “Quỳ có nhiều nét giống với lái xe đã bỏ chạy”.
Tuy nhiên, “nét giống” đó là gì thì lại không được thể hiện rõ. Theo quy định, trước khi nhận dạng, Điều tra viên (ĐTV) phải hỏi trước nhân chứng về tình tiết, vết tích, đặc điểm mà nhờ đó, họ có thể nhận dạng được. Nhưng 4 ngày sau khi nhận dạng Quỳ xong, các CSGT mới được lấy lời khai về đặc điểm của nghi phạm. Đây là quy trình “ngược”, không đúng luật và không đảm bảo khách quan.
Đó là chưa kể việc Quỳ đã khai trước Tòa rằng: “ĐTV đã cho các CSGT quan sát kỹ bị cáo rồi mới tiến hành nhận dạng”. Liệu Quỳ có bị “nhắm” trước để nhận dạng? Và tại sao ĐTV không tiến hành nhận dạng trực tiếp mà lại để CSGT nhận dạng qua ảnh? Các Luật sư khi phát biểu tại tòa đã đặt nghi vấn: “Trời tối (4h30 sáng mùa đông), thời gian tiếp xúc quá ngắn ngủi và không chăm chú nhìn vào mặt lái xe,… liệu các CSGT có thể nhận dạng chính xác Quỳ chính là người lái xe đã bỏ chạy?”.
Ngoài ra, các Luật sư còn có quan điểm rằng, kể cả trong trường hợp xe ô tô 16K- 3635 thuộc quyền sở hữu của Quỳ thì cũng không thể kết luận Quỳ là người đã điều khiển chiếc xe này thời điểm bị CSGT dừng xe (có thể người khác sử dụng).
Đó là chưa kể việc cả hai vợ chồng Quỳ đều khai về chứng cứ ngoại phạm rằng, chiếc xe ô tô trên đã được bán cho một người tên Trần Văn Quang (thị trấn Mạo Khê) từ ngày 26/9/2009. Lời khai này lại chỉ được CQĐT xác minh vội vàng rồi kết luận rằng lời khai trên không có căn cứ vì không có ai tên và đặc điểm như vậy…
CQĐT còn cho rằng, điện thoại của Quỳ dùng đã có những cuộc gọi đi tại địa bàn xã Đại Yên sau thời điểm ô tô bị bắt giữ, nhưng đây cũng là một chứng cứ gián tiếp và các Luật sư cho rằng, có điện thoại cũng không có nghĩa là đã lái chiếc xe chở thuốc nổ. Ai là người cầm điện thoại để gọi, số điện thoại đó có phải của bị cáo hay không…cần được xác minh làm rõ. Tuy nhiên, những quan điểm này đều không được Tòa chấp nhận…./.
Khoa Lâm

