Quảng Ninh: Góp ý vào các nội dung phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
(PLVN) – Ngày 10/4, Đại biểu Quản Minh Cường - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh, Tổ trưởng Tổ thảo luận số 14, chủ trì phiên thảo luận tại tổ để cho ý kiến vào các nội dung quan trọng.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội tiến hành phiên thảo luận tại tổ để cho ý kiến vào các nội dung quan trọng: Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2026-2030; kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030; Phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024; công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025; tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025.
Phát biểu tại tổ, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà - Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh, bày tỏ sự đồng tình cao với các báo cáo của Chính phủ về kết quả phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, đồng thời nhấn mạnh phương châm điều hành “lựa chọn đúng, triển khai nhanh, làm đến nơi đến chốn và đo lường bằng kết quả”.
Đại biểu đánh giá, công tác an sinh xã hội thời gian qua tiếp tục được quan tâm, nâng cao chất lượng và mở rộng phạm vi. Từ thực tiễn tại Quảng Ninh, nhiều chính sách đã được triển khai hiệu quả với mức hỗ trợ cao hơn quy định chung như hạ độ tuổi hưởng trợ cấp cho người cao tuổi, tăng mức bảo trợ xã hội, thực hiện chương trình sữa học đường cho học sinh từ mầm non đến trung học cơ sở.
Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân được chú trọng với việc khám sức khỏe định kỳ hằng năm, lập hồ sơ theo dõi đến từng hộ gia đình, củng cố hệ thống y tế cơ sở, bảo đảm trạm y tế có bác sĩ, kể cả tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Trong lĩnh vực giáo dục, địa phương linh hoạt triển khai mô hình bán trú, hỗ trợ bữa ăn cho học sinh, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền.
Bên cạnh đó, đời sống văn hóa, tinh thần của người dân tiếp tục được cải thiện; các hoạt động văn hóa, thể thao phát triển cả về phong trào quần chúng và thành tích cao. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cần tiếp tục quan tâm nhiều hơn tới các địa bàn khó khăn, khu vực chịu ảnh hưởng của thiên tai, sạt lở nhằm bảo đảm tính đồng đều trong thụ hưởng chính sách.
Liên quan đến lĩnh vực năng lượng, đại biểu ủng hộ mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, song cho rằng cần có lộ trình phù hợp, gắn với bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đại biểu đánh giá cao sự điều hành linh hoạt của Chính phủ trong ổn định giá xăng dầu thời gian qua, đồng thời kiến nghị tiếp tục phát triển mạnh các nguồn năng lượng, nhất là năng lượng tái tạo; tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, thủ tục để thu hút đầu tư và có giải pháp ứng phó trong các tình huống cấp bách.
Về tổ chức bộ máy sau sắp xếp đơn vị hành chính, đại biểu nêu thực tế nhiều trụ sở cấp xã hiện nay không đáp ứng được nhu cầu làm việc khi số lượng cán bộ tăng lên đáng kể. Do đó, đề nghị có cơ chế linh hoạt cho phép các địa phương được cải tạo, nâng cấp hoặc đầu tư phù hợp, bảo đảm điều kiện làm việc.
Đại biểu cũng đánh giá cao hiệu quả của chuyển đổi số trong thực tiễn, đặc biệt trong công tác bầu cử với việc ứng dụng cơ sở dữ liệu dân cư, tổ chức tiếp xúc cử tri trực tuyến quy mô lớn, giúp tiết kiệm thời gian, mở rộng phạm vi tiếp cận. Tuy nhiên, cần tiếp tục đầu tư hạ tầng, nguồn nhân lực và có cơ chế bảo vệ, khuyến khích những cán bộ dám nghĩ, dám làm, đổi mới sáng tạo.
Đối với kế hoạch đầu tư công trung hạn, đại biểu cơ bản thống nhất với các nội dung trình, đồng thời đề nghị thận trọng trong lựa chọn dự án sử dụng vốn ODA, tránh lạc hậu về công nghệ.
Đại biểu cũng kiến nghị nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho các địa phương được giao thực hiện các dự án lớn, cho phép giữ lại một phần nguồn thu để tái đầu tư; đồng thời có cơ chế khuyến khích các địa phương giải ngân tốt, sử dụng hiệu quả nguồn vốn và linh hoạt hơn trong sử dụng nguồn dự phòng nhằm tránh lãng phí.
Phát biểu tại tổ, đại biểu Trần Thị Kim Nhung, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, ĐBQH tỉnh, đánh giá cao Báo cáo số 152 của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 và những tháng đầu năm 2026, cho rằng báo cáo đã được chuẩn bị công phu, toàn diện, đề cập đầy đủ các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội đến bình đẳng giới, đồng thời phân tích rõ những kết quả đạt được cũng như các khó khăn, thách thức trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động. Đại biểu cũng đánh giá cao báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế - Xã hội với nhiều nội dung phân tích sâu, làm rõ thêm các vấn đề cần quan tâm.
Về các thách thức trong thời gian tới, đại biểu đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, nhất là nguồn cung dầu thô và khí đốt. Đại biểu đề xuất cần tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược dài hạn, đồng thời xây dựng các kịch bản ứng phó với tình huống thiếu hụt năng lượng để bảo đảm tính chủ động, tránh bị động trước các biến động như đã từng xảy ra trong đại dịch Covid-19. Bên cạnh đó, trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, việc bảo đảm ổn định nguồn điện và hạ tầng internet được xem là yếu tố then chốt đối với hoạt động kinh tế - xã hội.
Trong lĩnh vực an sinh xã hội, đại biểu đề nghị cần chuyển từ định hướng chính sách chung sang triển khai các mô hình cụ thể, đặc biệt là phát triển hệ thống trung tâm dưỡng lão, mô hình chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số. Đồng thời, đại biểu nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường giáo dục chuyên biệt cho trẻ tự kỷ, bảo đảm trẻ được tiếp cận môi trường học tập phù hợp, qua đó phát huy khả năng riêng và không bị bỏ lại phía sau.
Đại biểu cũng đề cập đến những thách thức đối với gia đình Việt Nam hiện nay, nhất là sự gắn kết giữa các thành viên và việc gìn giữ các giá trị truyền thống, qua đó đề nghị cần bổ sung các giải pháp xây dựng hệ giá trị gia đình tiến bộ, văn minh, coi đây là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Đối với Báo cáo thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới năm 2025, đại biểu ghi nhận nhiều kết quả tích cực mà Việt Nam đạt được trên cả bình diện trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, qua thực tiễn giám sát, đại biểu cho rằng vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như thiếu nhân lực chuyên trách ở cơ sở, kinh phí dành cho công tác bình đẳng giới còn thấp, đặc biệt ở cấp xã và việc thu thập số liệu có phân tách giới còn nhiều bất cập.
Từ đó, đại biểu kiến nghị Chính phủ sớm rà soát, cập nhật Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới phù hợp với bối cảnh mới; triển khai bộ chỉ số đánh giá bình đẳng giới cấp tỉnh để nâng cao hiệu quả quản lý; đồng thời đề nghị Bộ Tài chính quan tâm bố trí kinh phí, xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê về giới đồng bộ. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, xác định các khoảng trống giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ để có chính sách phù hợp, bảo đảm cơ hội phát triển bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực này.
Đại biểu Vũ Ngọc Lâm, Phó Giám đốc Sở Tài chính, ĐBQH tỉnh Quảng Ninh, đồng tình với các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tài chính ngân sách và đầu tư công đến năm 2030 do Chính phủ trình. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng các mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn tới ở mức cao, đặt ra áp lực và thách thức rất lớn trong tổ chức thực hiện.
Theo đại biểu, để đạt được các mục tiêu này, giải pháp quan trọng nhất là tiếp tục hoàn thiện thể chế, coi đây là đột phá chiến lược, đi trước mở đường cho phát triển. Thời gian qua, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết tháo gỡ khó khăn, đặc biệt là xử lý tình trạng chồng chéo pháp luật, góp phần khơi thông nguồn lực cho các dự án đầu tư.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại địa phương vẫn còn nhiều vướng mắc, thể hiện qua tình trạng chậm tiến độ, chậm giải ngân và việc phân bổ vốn đầu tư công trung hạn chưa cụ thể, với tỷ lệ lớn vốn chưa có địa chỉ rõ ràng. Đại biểu dẫn chứng các bất cập trong quy định về đất đai, khoáng sản, cho thấy sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các luật, gây khó khăn trong triển khai dự án, thậm chí phát sinh những tình huống bất hợp lý trong thực tế.
Từ đó, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát, tích hợp các quy định pháp luật theo hướng đơn giản hóa thủ tục, đồng bộ giữa các lĩnh vực. Đối với các dự án đầu tư công đã được cấp có thẩm quyền quyết định, cần xem xét cắt giảm các thủ tục trùng lặp liên quan đến đất đai, khoáng sản, quy hoạch nhằm rút ngắn thời gian triển khai. Về nguồn lực cho phát triển, đại biểu nêu thực tế nhiều địa phương đang có nguồn cải cách tiền lương còn dư lớn nhưng chưa được sử dụng hiệu quả.
Do đó, kiến nghị cho phép các địa phương chủ động, linh hoạt sử dụng nguồn này cho đầu tư phát triển khi đã bảo đảm các nghĩa vụ về cải cách tiền lương, đồng thời tự chịu trách nhiệm trong cân đối nguồn lực.
Đối với kế hoạch đầu tư công trung hạn, đại biểu đề xuất nghiên cứu triển khai theo phương thức “cuốn chiếu” để phù hợp với bối cảnh thực tiễn biến động nhanh, qua đó nâng cao tính linh hoạt, khả thi và hiệu quả trong sử dụng vốn, đồng thời giúp việc ra quyết định sát thực tế hơn. Bên cạnh đó, đại biểu nhấn mạnh vai trò của công tác dự báo trong xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tuy nhiên, hiện nay việc thiếu bộ chỉ tiêu thống kê chính thức cho cấp xã sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã gây nhiều khó khăn trong công tác lập kế hoạch. Vì vậy, đại biểu đề nghị sớm ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, làm cơ sở cho việc đánh giá, dự báo và xây dựng kế hoạch phát triển sát thực tiễn.


