Quan tâm đến tính thực chất của hoà giải ở cơ sở

 Ngày 3/6, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Luật Hòa giải cơ sở” tại Vĩnh Phúc. Hội thảo sẽ rút ra được những cơ sở lý luận và thực tiễn phù hợp, làm tiền đề vững chắc cho việc xây dựng dự thảo Luật có tính khả thi cao, đáp ứng yêu cầu của công tác hòa giải ở cơ sở trong điều kiện kinh tế - xã hội và dân trí ngày càng phát triển ở nước ta.

Ngày 3/6, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Luật Hòa giải cơ sở” tại Vĩnh Phúc.

Dự kiến, với sự tham dự của nhiều đại biểu đến từ Ban Dân vận TƯ, một số Ủy ban của QH, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, TANDTC, UB TƯ MTTQ VIệt Nam, TƯ Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Sở Tư pháp, hòa giải viên đại diện cho các Tổ hòa giải của một số tỉnh, TP trực thuộc TƯ và đại biểu của Dự án JUDGE (Canada), hội thảo sẽ rút ra được những cơ sở lý luận và thực tiễn phù hợp, làm tiền đề vững chắc cho việc xây dựng dự thảo Luật có tính khả thi cao, đáp ứng yêu cầu của công tác hòa giải ở cơ sở trong điều kiện kinh tế - xã hội và dân trí ngày càng phát triển ở nước ta.

Đây là giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời một đạo luật điều chỉnh về công tác hòa giải ở cơ sở sau 10 năm hoạt động này được thực hiện theo Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Từ thực tế trong 10 năm qua, tỷ lệ số vụ việc hòa giải thành đã tăng lên rõ rệt, trung bình là 67,2%.

Thông qua việc hòa giải, các tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân đã được giải quyết (giảm khoảng 30% các loại vụ việc tranh chấp phải chuyển đến TAND hoặc cơ quan có thẩm quyền khác giải quyết). Điều này cho thấy vai trò quan trọng của công tác hòa giải, thông qua việc phát hiện và giải quyết tận gốc những mâu thuẫn, tranh chấp, góp phần ổn định trật tự xã hội ở địa bàn dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền tăng cường công tác quản lý xã hội ở cơ sở.

Nhưng 10 năm qua cũng cho thấy một thực tế “phũ phàng” đối với những người làm công tác hòa giải ở cơ sở là đội ngũ cán bộ làm công tác hòa giải chưa được nhìn nhận, đãi ngộ đúng với vai trò, nỗ lực của họ trong việc “vác tù và hàng tổng” này. Các hòa giải viên vốn thường phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, nên “hòa giải chỉ là việc phụ”, thường xuyên phải làm việc vào ngày nghỉ hoặc buổi tối... nhưng lại chỉ được hưởng một khoản phụ cấp eo hẹp. Thậm chí ở một số còn bị coi là “rách việc vì xía vào việc riêng nhà người khác” – như tâm sự của một cán bộ hòa giải ở xã Hải Vân (Như Thanh, Thanh Hóa).

Mang danh “hòa giải viên”, họ chủ yếu chỉ được mời tham dự những buổi tập huấn, tuyên truyền về nội dung văn bản pháp luật, chính sách mới trong chương trình phổ biến giáo dục pháp luật của địa phương, chứ mấy khi “được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ bài bản”. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hòa giải chưa được quan tâm đúng mức như vậy nên các hòa giải viên chỉ làm việc bằng kinh nghiệm sống và uy tín của bản thân trong cộng đồng dân cư. Điều đó không tránh khỏi thực tế chỉ “dùng tình, nghĩa để khuyên giải là chính” chứ khó dùng luật vào giải quyết mâu thuẫn… 

Và “hậu quả lớn” là biến công tác hòa giải ở cơ sở trở thành một hoạt động nhiều khi bị mang tính hình thức, thành lập tổ hòa giải cho có, hiệu lực biên bản hòa giải không được tôn trọng, ít người muốn làm hòa giải viên vì lo ngại “ôm rơm rặm bụng”…

Điểm sơ qua một số vấn đề trong thực hiện Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở đã cho thấy, ban hành một văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở đã khó, nhưng việc đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc từ đó kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải, đặc biệt là việc xây dựng Luật Hòa giải cơ sở, còn khó hơn. Công việc này đòi hỏi phải được đầu tư có chọn lọc, tập trung để luật phù hợp với thực tiễn, để “chỗ dựa pháp lý” của công tác hòa giải ở cơ sở được vững chắc, phát huy hiệu quả lâu dài.

Huy Anh