Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp: Còn nhiều việc phải làm

Đến nay, Hải Phòng cơ bản sắp xếp, chuyển đổi mô hình hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Trong đó có 102 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hóa; 26 doanh nghiệp chuyển sang mô hình Công ty TNHH, gồm 24 công ty TNHH một thành viên Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ; 2 công ty TNHH hai thành viên

Đến nay, Hải Phòng cơ bản sắp xếp, chuyển đổi mô hình hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Trong đó có 102 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hóa; 26 doanh nghiệp chuyển sang mô hình Công ty TNHH, gồm 24 công ty TNHH một thành viên Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ; 2 công ty TNHH hai thành viên. Như vậy, thành phố chỉ còn 2 doanh nghiệp Nhà nước do tình hình tài chính phức tạp, số lỗ phát sinh lớn, mất khả năng thanh toán nên tạm thời chưa sắp xếp là Công ty xuất nhập khẩu Hải Phòng, Công ty chế biến thủy sản xuất khẩu. Vấn đề nổi lên là việc quản lý vốn Nhà nước tại các loại hình doanh nghiệp này bởi mặc dù đã có nhiều biện pháp nhưng vẫn đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập.

Vốn nhỏ, quyền chưa rõ ràng

Trong tổng số hơn 100 doanh nghiệp Nhà nước được chuyển đổi, đa số là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, trung bình vốn điều lệ chỉ khoảng 10 tỷ đồng. Mô hình quản lý phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp hiện nay chủ yếu là cử người đại diện tại công ty cổ phần và công ty TNHH hai thành viên, còn tại công ty TNHH một thành viên thì do thành phố bổ nhiệm Chủ tịch công ty hoặc thành viên Hội đồng thành viên…

Trong số các doanh nghiệp cổ phần, phần lớn đã được bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu về Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước ( SCIC). Đại diện phần vốn Nhà nước theo dõi, giám sát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền tại cuộc họp của đại hội đồng cổ đông, HĐQT theo ủy quyền của thành phố và SCIC; đôn đốc các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính tại doanh nghiệp như thu tiền bán cổ phần, tiền cổ tức, tiền bán cổ phần chậm trả, tiền chuyển nhượng cổ phần Nhà nước và các khoản nợ tồn đọng khác… Nhìn chung, người đại diện đã cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao nhưng do Nhà nước chưa có quy định rõ về quyền và trách nhiệm của người đại diện, mặt khác người đại diện lại kiêm nhiệm, vị trí trong doanh nghiệp khác nhau ( có nơi là thành viên HĐQT nhưng có nơi là thành viên Ban kiểm soát…) nên thời gian dành cho công việc đại diện không nhiều, nắm tình hình chưa sâu sắc và vai trò, ảnh hưởng của người đại diện tới các quyết định của doanh nghiệp còn hạn chế. Việc xin ý kiến về các vấn đề quan trọng như phương hướng, chiến lược kế hoạch kinh doanh, phát hành thêm cổ phần, chia cổ tức…, người đại diện đã chủ động trước các kỳ đại hội cổ đông nhưng việc thông tin định kỳ và phát hiện những vấn đề mới phát sinh chưa được kịp thời.

Đối với các công ty TNHH một thành viên hoặc hai thành viên, người đại diện theo ủy quyền là chủ tịch công ty hoặc thành viên hội đồng thành viên do UBND thành phố bổ nhiệm, có trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng còn nhiều vướng mắc như việc ban hành quy chế quản lý và hạch toán kinh doanh thường chậm và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế, đặc biệt là đối với một số doanh nghiệp đặc thù; chưa quy định việc phân phối lợi nhuận sau thuế; mới nêu được cơ chế phân loại doanh nghiệp, khen thưởng quản lý điều hành, đánh giá hoạt động của Hội đồng thành viên nhưng chưa ban hành được chế tài xử lý đối với giám đốc, chủ tịch công ty khi hoạt động kinh doanh thua lỗ, không bảo toàn vốn Nhà nước giao. Đó là chưa kể một số công ty TNHH một thành viên hoạt động công ích, nguồn thu chủ yếu từ phí để lại và công trợ từ ngân sách thành phố, doanh thu thấp, nhiều doanh nghiệp không hạch toán đầy đủ giá thành sản phẩm theo quy chế tài chính và chế độ kế toán nên việc giao kế hoạch tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước khó thực hiện.

Việc quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài cũng đang bộc lộ nhiều bất cập khi mọt số đại diện của bên Việt Nam chưa tích cực tham gia đúng cương vị và trách nhiệm của mình tại liên doanh, làm ảnh hưởng tới hiệu quả vốn Nhà nước.

Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp: Còn nhiều việc phải làm
Sản xuất tại các dự án công nghiệp lớn như Nhà máy DAP, Nhiệt điện chưa đạt kế hoạch dự kiến. Trong ảnh: Đóng bao phân bón tại nhà máy DAP.
Tăng cường quản lý

Trước tình hình trên, Phó chủ tịch UBND thành phố Đan Đức Hiệp đã họp với các ngành, các doanh nghiệp nhằm tìm biện pháp quản lý tốt hơn nguồn vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là cần sớm ban hành quy chế quản lý phần vốn và quản lý người đại diện phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn góp của thành phố đối với từng loại hình doanh nghiệp cụ thể. Bên cạnh đó, cũng cần sớm có chế tài xử lý đối với người đại diện phần vốn Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ không tuân thủ các chế định tài chính, vi phạm các quy chế và quy định của chủ sở hữu.., gây hậu quả hoặc làm thất thoát vốn Nhà nước. Việc theo dõi, tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng vốn Nhà nước tại các loại hình doanh nghiệp của thành phố cần quy củ và đúng định kỳ hơn, hiện mới chỉ thống kê, tập hợp báo cáo của các doanh nghiệp địa phương là chính, các doanh nghiệp thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp Trung ương; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài báo cáo chưa đầy đủ hoặc không báo cáo. Nói tóm lại, việc quản lý phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp cần được theo dõi sát sao hơn, đánh giá đúng hiệu quả và kịp thời có các biện pháp ngăn chặn tình trạng làm thất thoát, không bảo toàn được phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, quy trách nhiệm cá nhân cụ thể. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước không cần thiết phải nắm cổ phần chi phối có thể bán tiếp phần vốn Nhà nước, tập trung vốn cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao./.

                                                                                     Hồng Thanh