Phía sau Vĩ tuyến 17ngày và đêm

Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (đạo diễn Hải Ninh) được làm năm 1972, giữa lúc cuộc chiến tranh đang leo thang ác liệt. Đây là một bộ phim tiêu biểu cho điện ảnh Cách mạng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, đồng thời cũng là

Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (đạo diễn Hải Ninh) được làm năm 1972, giữa lúc cuộc chiến tranh đang leo thang ác liệt. Đây là một bộ phim tiêu biểu cho điện ảnh Cách mạng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, đồng thời cũng là tác phẩm điện ảnh Việt Nam đầu tiên tham gia LHP quốc tế (LHP Moskva 1973) và giành được giải của Hội đồng Hòa bình Thế giới. Gần 40 năm đã qua, nữ diễn viên VN đầu tiên giành giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại LHP quốc tế với vai o Dịu trong Vĩ tuyến 17 ngày và đêm-NSND Trà Giang vẫn nhớ rõ những ngày tháng làm phim trong lửa đạn.

Phía sau Vĩ tuyến 17ngày và đêm

“Sống” cùng nhân vật

Phía sau Vĩ tuyến 17ngày và đêmSau khi Hiệp định Geneve được ký kết, sông Bến Hải trở thành giới tuyến phân đôi đất nước. Bi kịch của những người cùng chung nguồn cội bỗng phân ly kẻ Bắc người Nam với hai chế độ, hệ tư tưởng hoàn toàn khác nhau cùng cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất nhằm nối hai bờ Bến Hải đã thôi thúc sức sáng tạo của bộ đôi: nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ và đạo diễn Hải Ninh. Từ năm 1965, bất chấp đạn bom của kẻ thù, cả hai đã rong ruổi trên xe đạp hàng tháng trời từ Hà Nội vào tận vùng giới tuyến Vĩnh Linh (Quảng Trị) để tìm hiểu “người thật việc thật”. Năm 1968, kịch bản (lúc đầu có tên là Bão tuyến) được hoàn thành. Hoàng Tích Chỉ và Hải Ninh một lần nữa lóc cóc đạp xe vào vĩ tuyến 17 đọc cho những người dân, những người trực tiếp tham gia chiến đấu nơi giới tuyến nghe, nhờ góp ý hoàn thiện kịch bản. Trở về với kịch bản hoàn chỉnh trong tay, cuối năm 1970 đoàn làm phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (tên phim được lấy cảm hứng từ một ý ghi trong nhật ký của một đồn biên phòng mà đoàn làm phim tình cờ đọc được là: “Ngày hôm nay không có việc gì xảy ra”) được thành lập, Trà Giang, “ngôi sao nữ” của điện ảnh Cách mạng lúc đó đảm nhận vai chính. Cả ê kíp thực hiện bộ phim lại về vùng giới tuyến đi thực tế và tranh thủ quay những cảnh cần thiết.

Những năm 1970, Mỹ tạm ngừng ném bom miền Bắc nhưng vùng giới tuyến vẫn luôn trong tình trạng nguy hiểm, chỉ cần phát hiện động tĩnh khả nghi bên bờ Bắc là máy bay do thám của địch oanh tạc ngay. Đoàn làm phim phải làm việc trong tình trạng khá căng thẳng, luôn đề cao cảnh giác. “Lúc đi thực tế chúng tôi phải đi tản ra, không được tụ tập đông người tránh cho địch nghi ngờ, tối thì phải ngủ dưới địa đạo. Một điều rất cảm động là đi đến đâu chúng tôi cũng được người dân đón tiếp nồng hậu dù họ có thể gặp nguy hiểm...”, NSND Trà Giang nhớ lại.

Theo NSND Trà Giang thì một trong những điều hạnh phúc nhất khi làm phim ngày xưa là diễn viên được đi thực tế. Chị bảo: “Việc đi thực tế giúp cuộc sống mình phong phú hẳn lên, lại rất tốt cho nghề nghiệp. Khi đọc kịch bản, phần nào hình dung được nhân vật thì khi qua thực tế, được trải nghiệm cùng đời sống với nhân vật, mới có thể “ngấm” vào nhân vật. Diễn viên mà không có hiểu biết thực tế, không khám phá thì không sáng tạo được”. Gần 40 năm đã qua, NSND Trà Giang vẫn nhớ như in ngày ấy, “Ở vùng giới tuyến, lá cờ Tổ quốc phải luôn tung bay khẳng định chủ quyền nhưng địch thường xuyên bắn phá làm rách cờ. Với tình hình kinh tế khó khăn lúc đó thì không phải lúc nào cũng có vải để may cờ mới, nên có những bà mẹ nhiều đêm thức trắng khâu cờ để sáng hôm sau lá cờ Tổ quốc ta lại tung bay trên bờ Bắc”.

Phía sau Vĩ tuyến 17ngày và đêm
Đặc biệt, trong những lần tiếp xúc với các đoàn quân từ bờ Nam sang bờ Bắc, NSND Trà Giang đã gặp o Thảo, người được xem là một trong những nguyên mẫu làm nên o Dịu của Vĩ tuyến 17 ngày và đêm. “O Thảo là bí thư chi bộ, xã đội trưởng huyện Gio Linh. Cô ấy còn rất trẻ, nhỏ hơn tôi hai tuổi, và đẹp lắm, làn da trắng mịn, mắt to tròn, làn mi cong… làm tôi ấn tượng ngay. Khi trò chuyện, hỏi han nhau tôi rất xúc động trước hoàn cảnh cũng như lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu của cô gái trẻ (có cha và anh hoạt động cách mạng, o Thảo phải chứng kiến cảnh anh trai bị bắt, bị tra tấn mà cắn răng không biểu lộ tình cảm ra ngoài tránh bị địch nghi ngờ, các chi tiết này đều trở thành chất liệu sống cho phim). Có thể nói o Thảo đã giúp tôi thêm tình cảm với nhân vật, thêm hoàn thiện nhân vật, được “sống” với đời sống của nhân vật”.

Những cảnh quay “lên rừng xuống bể”

Quay phim ở vùng giới tuyến vốn rất nguy hiểm vì dễ bị lộ, tuy nhiên trong quá trình đi thực tế, đoàn phim cũng tranh thủ quay những bối cảnh thật mà không thể dàn dựng được: Cảnh cửa Tùng, cảnh ngôi làng bị ném bom còn nguyên dấu tích chiến tranh, cảnh khói lửa nóng bỏng sau trận oanh tạc của kẻ thù... Nguy hiểm là thế nhưng đoàn làm phim với sự giúp đỡ của lực lượng công an vũ trang đã vận động được rất đông người dân tham gia cảnh bà con gồng gánh chạy giặc, cảnh người dân biểu tình phản đối khi bị giặc gom vào ấp chiến lược. Một điều rất thú vị là để có cảnh biểu tình đầy khí thế này đoàn làm phim phải quay ở 3 địa điểm khác nhau: đại cảnh với biển và cát ở vùng Vĩnh Mốc, những cảnh quay cận nhân vật ở vùng ven biển Nam Hà và cảnh xe bọc thép lùa dân vào ấp chiến lược ở sân bay Hòa Lạc. “Lúc ấy chiếc xe bọc thép, chiến lợi phẩm thu được từ quân địch, rất quý. Đoàn làm phim đã xin bộ chỉ huy cho mượn xe bọc thép quay cảnh dồn dân nhằm tăng tính chân thực cho bộ phim. Lúc chuẩn bị quay thì Mỹ lại ném bom miền Bắc, chiếc xe phải sơ tán, bộ chỉ huy cũng rút lại lệnh cho mượn xe. Chẳng còn cách nào khác đoàn làm phim phải đi theo chiếc xe lên vùng Hòa Lạc. Bối cảnh của phim là vùng ven biển nhưng Hòa Lạc lại là vùng rừng núi, nếu quay không khéo sẽ sai rắc-co. Thế là đạo diễn và quay phim phải tùy cơ ứng biến là chỉ quay những góc hẹp, ống kính hếch lên trời, không ngờ lại tạo nên hiệu quả hình ảnh ngoài mong đợi khi những khuôn hình cận thể hiện được sự bề thế, dữ dội của chiếc xe bọc thép cũng như không khí đối đầu căng thẳng của người dân và quân địch trong cảnh dồn dân”, NSND Trà Giang nhớ lại.

Phía sau Vĩ tuyến 17ngày và đêm
Năm 1973, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm đến với LHP quốc tế Moskva không chỉ đem lại giải vàng nữ diễn viên chính cho NSND Trà Giang mà còn tạo nên sự sửng sốt cho giới làm phim quốc tế. Những người bạn Nga bày tỏ sự ngạc nhiên và thán phục vì trong thời chiến họ cũng chỉ làm được những bộ phim tài liệu phản ánh hiện thực cuộc chiến tranh vệ quốc chứ không làm phim truyện như Việt Nam. Từ đó, bộ phim đã chu du qua nhiều nước và nhận được sự tưởng thưởng của khán giả, sự trân trọng của giới chuyên môn. Đặc biệt năm 1978, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm là bộ phim điện ảnh đầu tiên đại diện cho nền điện ảnh cách mạng Việt Nam được giới thiệu ở một quốc gia tư bản là Nhật Bản. “Chưa bao giờ tôi thấy bộ phim được đón nhận nồng nhiệt như thế. Các điểm dừng của bộ phim đều bán hết vé, có rất nhiều người trẻ, lại có nhiều gia đình cùng bồng bế nhau đi xem phim nữa. Tôi thực sự rất xúc động trước tình cảm của bạn bè quốc tế dành cho bộ phim”, NSND Trà Giang chia sẻ.

Bây giờ ngồi nghĩ lại ngay cả người trong cuộc như NSND Trà Giang cũng không thể hình dung được động lực nào đã giúp họ vượt qua những khó khăn không tưởng để có thể làm nên một bộ phim công phu, hoành tráng như vậy ngay giữa thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến. Có lẽ đó là tình yêu mãnh liệt dành cho nghệ thuật. Và thêm nữa, là khát vọng của tất cả cùng hướng đến ngày thống nhất.