Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số: Chuyển hóa sức mạnh mềm thành động lực kinh tế
Ngày 5/6, nhằm quán triệt tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Báo Văn Hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và Trường ĐH Văn hóa TP Hồ Chí Minh phối hợp đã cùng tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số”.
Văn hóa là sức mạnh mềm, là khát vọng, sức sáng tạo
Sự kiện này là diễn đàn trao đổi học thuật và thực tiễn thiết thực nhằm tìm kiếm giải pháp đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp đáng kể vào GDP và nâng cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế.

Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa, Trưởng Ban Tổ chức nhấn mạnh rằng, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, cùng các chương trình hành động của Chính phủ và của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xác lập một cách rõ ràng vị trí của văn hóa trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước.
Đặc biệt, công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những hướng đi quan trọng để chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành nguồn lực phát triển, từng bước trở thành ngành kinh tế có đóng góp đáng kể vào GDP, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế.

Hội thảo “Triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW - Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số” được tổ chức trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, về năng lực cạnh tranh quốc gia và về khả năng thích ứng trước những biến động nhanh chóng của thời đại số.
Trong dòng chảy ấy, văn hóa không còn chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực mang tính bồi đắp tinh thần, mà đang ngày càng khẳng định vai trò là nền tảng phát triển, là nguồn lực nội sinh quan trọng, là sức mạnh mềm của quốc gia, là nền tảng để hình thành bản lĩnh, khát vọng và sức sáng tạo của con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Dù vậy, TS. Nguyễn Anh Vũ thẳng thắn chỉ ra thực tế rằng công nghiệp văn hóa vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, vướng mắc lớn nhất nằm ở thể chế. Hệ thống chính sách hiện nay chưa đồng bộ và chưa theo kịp tốc độ vận động của công nghệ.
Cách tiếp cận quản lý còn nặng tính hành chính, chưa tạo ra môi trường thông thoáng cho sáng tạo; đồng thời các vấn đề mới trên môi trường số như quản lý nội dung, bảo hộ bản quyền, khai thác dữ liệu còn thiếu khung pháp lý đầy đủ.
Mặt khác, thị trường văn hóa đang thiếu tính đồng bộ, liên kết giữa khâu sáng tạo, sản xuất, quảng bá và tiêu dùng còn lỏng lẻo. Điều này dẫn đến việc nhiều sản phẩm chất lượng nhưng chưa được thương mại hóa hiệu quả, chưa xây dựng được thương hiệu để vươn ra thị trường quốc tế…

Kiến tạo giá trị và phát triển kinh tế từ văn hóa
Đồng quan điểm về việc cần có những giải pháp mang tính vĩ mô, ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, cho biết trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành liên tiếp các văn bản quan trọng như Nghị quyết 80-NQ/TW, Nghị quyết số 28/2026/QH16 và Quyết định 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Các chính sách này đánh dấu một bước chuyển biến cốt lõi trong nhận thức lý luận và thực tiễn: từ tư duy “bảo tồn, phát huy và hưởng thụ văn hóa” sang “kiến tạo giá trị và phát triển kinh tế từ văn hóa”.

Để công nghiệp văn hóa thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới dựa trên nền tảng số, ông Tuấn đề xuất thực hiện đồng bộ 5 nhóm giải pháp chiến lược. Thứ nhất là làm chủ hạ tầng công nghệ. Cần xây dựng các nền tảng phân phối thuần Việt, đẩy mạnh số hóa di sản và dữ liệu văn hóa để tạo ra những “chợ số” an toàn, được bảo hộ bản quyền chặt chẽ, mở ra không gian tiêu thụ lớn cho sản phẩm trong nước.
Tiếp đó là đào tạo nguồn nhân lực liên ngành. Trong đó, đội ngũ nhân lực cần hướng tới mô hình “2 trong 1”, tức là vừa am hiểu nghệ thuật sáng tạo, vừa thành thạo các công nghệ tiên tiến.
Ngoài ra, cần dồn nguồn lực vào những lĩnh vực giàu dư địa phát triển và có tiềm năng lớn như âm nhạc, điện ảnh, và thị trường game - trò chơi giải trí.
Song song đó là hoàn thiện khung pháp lý, thắt chặt chính sách bảo hộ bản quyền nhằm tạo bệ đỡ vững chắc, nâng cao ý thức tuân thủ luật sở hữu trí tuệ của cả cộng đồng sáng tạo và người tiêu dùng trên môi trường số.
Cuối cùng là đẩy mạnh liên kết chéo, gắn kết chặt chẽ công nghiệp văn hóa với du lịch, truyền thông và thương mại điện tử nhằm tạo chuỗi giá trị kinh tế cao, từ đó chủ động xuất khẩu văn hóa và quảng bá thương hiệu quốc gia ra toàn cầu.

Đặc biệt, trong khuôn khổ sự kiện, Hội thảo đã chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh và các doanh nghiệp. Đây là một bước đi thực tiễn, hiện thực hóa các mục tiêu kết nối giữa cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và các đơn vị thực hành, góp phần xây dựng hệ sinh thái bền vững để công nghiệp văn hóa Việt Nam tự tin cất cánh trong kỷ nguyên số.
Trong các bài tham luận cũng như ở phiên thảo luận chuyên sâu, các diễn giả đã tập trung đánh giá thực trạng, tiềm năng của công nghiệp văn hóa Việt Nam, đi sâu phân tích những cơ hội, thách thức khi ứng dụng công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo.
Các chuyên gia nhìn nhận, bên cạnh lợi thế về nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, hệ thống di sản đa dạng và lực lượng sáng tạo trẻ, lĩnh vực này vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản về thể chế, hạ tầng số, thị trường bản quyền và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Để giải quyết, các chuyên gia đã đưa các giải pháp hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số và tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo.