Phát triển các trang trại chăn nuôi tập trung- Chưa “an cư”, khó “lạc nghiệp”
Sản phẩm chăn nuôi tăng cao, nhu cầu tiêu thụ lớn, không phát sinh dịch bệnh, là điều kiện lý tưởng để người dân xây dựng và mở rộng trang trại chăn nuôi. Nhưng do chưa có quy hoạch, nhiều trang trại tự phát mọc lên, thiếu các điều kiện tối thiểu để phát triển bền vững, ảnh hưởng đến môi trường.
Tự phát, manh mún
Xã Vĩnh An hiện có 7 trang trại gà, 7 trang trại lợn, là một trong những địa phương chăn nuôi trang trại phát triển nhất của huyện Vĩnh Bảo. Người dân cũng quen dần với việc nuôi trang trại, tự tiếp cận khoa học, kỹ thuật chăn nuôi trang trại, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ông Nguyễn Văn Tính, một chủ trang trại cho biết: tuy vất vả, phụ thuộc tình hình dịch bệnh và thị trường tiêu thụ, nhưng lợi nhuận từ chăn nuôi trang trại hơn hẳn chăn nuôi nhỏ lẻ nhờ ưu thế số lượng nuôi lớn. Trong đó, gà thịt lãi 1.000 -1.200 đồng/kg, gà đẻ trứng lãi 150- 200 đồng/quả. Tuy nhiên, người chăn nuôi gà xã Vĩnh An cũng có những nỗi niềm từ khó khăn khách quan. Theo chủ trang trại Rộc Rừng, thiếu điện đang là trở ngại để phát triển chăn nuôi trang trại, nhất là mùa lạnh, việc giữ nhiệt cho đàn gà nuôi là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển, chống chịu rét, bệnh tật của con vật nuôi. Thực tế, nguồn điện cung cấp cho các trại chăn nuôi phụ thuộc vào nguồn điện chung của xã, trong khi đường dây tải điện, phụ tải luôn trong tình trạng phập phù ngay cả với điện sinh hoạt của các hộ dân. Các trang trại tiêu thụ lượng điện lớn, nên việc quá tải hoặc không đủ điện năng thường xuyên xảy ra.
Các trang trại chăn nuôi ở xã Tân Liên (An Lão) ở vào hoàn cảnh “tiến thoái lưỡng nan”. Một chủ trang trại chăn nuôi ở đây cho biết, đầu tư lập trang trại hàng trăm triệu đồng nhưng không thể yên tâm sản xuất vì diện tích đất xây dựng trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Muốn đầu tư tiếp cũng lo, thậm chí không dám làm vì nếu có dự án thu hồi đất, tiền tỷ đổ vào đó, chủ trang trại dễ mất nghiệp.
Mặt khác, theo quy định, khoảng cách trang trại chăn nuôi với khu dân cư là 500 m, nhưng cũng như nhiều trang trại trong thành phố, trang trại chăn nuôi ở xã Việt Tiến (Vĩnh Bảo) lại quá gần khu dân cư, án ngữ ngay trục đường giao thông liên thôn, liên xã phục vụ đi lại hằng ngày của người dân. Trường hợp xảy ra dịch bệnh, không những khó cách ly mà đây chính là “bốt” chặn người qua lại, rất dễ lây truyền bệnh sang người.
Quan tâm xây dựng mô hình chăn nuôi bền vững
Hiện trên địa bàn thành phố có hơn 500 trang trại, chủ yếu là chăn nuôi lợn và chăn nuôi gia cầm, chiếm trên 90%, với phần lớn là các giống công nghiệp cao sản, phát triển mạnh ở các huyện như Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, Tiên Lãng, An Lão.
Thành phố có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp - thuỷ sản giai đoạn 2008 – 2010, trong đó hướng đến phát triển chăn nuôi trang trại tập trung. Gần đây, một số địa phương chủ động xây dựng quy hoạch sản xuất chăn nuôi theo hướng phát triển bền vững bằng việc hình thành một số khu chăn nuôi trang trại tập trung như xã Khởi Nghĩa (huyện Tiên Lãng); Lại Xuân (huyện Thủy Nguyên)… Đến nay đã triển khai xây dựng 37 trang trại chăn nuôi gia cầm; 18 trang trại lợn, quy mô 600-1.250 con/trang trại và 1 trang trại lợn nái, quy mô 300 con/trang trại.
Theo thống kê của ngành nông nghiệp, càng nuôi quy mô lớn thì thu lợi càng cao, bởi chăn nuôi trang trại tập trung tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, năng suất, hiệu quả cao, dễ kiểm soát chất lượng sản phẩm, dịch bệnh. Loại hình này tận dụng, khai thác tiềm năng quỹ đất, nhất là các vùng đất trũng, đất hoang hóa. Trưởng phòng chăn nuôi, Sở Nông nghiệp và PTNT Nguyễn Tiến Dũng cho biết: với hơn 500 trang trại trên địa bàn thành phố, bình quân sử dụng từ 5- 15 lao động/trang trại, giải quyết việc làm cho hơn 5000 lao động với mức thu nhập bình quân mỗi tháng từ 700.000- 1.500.000 đồng/người, là một hướng chuyển đổi kinh tế hiệu quả trong nông nghiệp hiện nay.
Việc quy hoạch định hướng lâu dài, ổn định vùng chăn nuôi công nghiệp tập trung phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Mặt khác, cần có quy định cụ thể về tỷ lệ sử dụng đất và phân bố diện tích chuồng trại, cây trồng phù hợp cho từng trang trại. Ví dụ đối với trại chăn nuôi gà, diện tích chuồng trại để chăn nuôi không vượt quá 40% tổng diện tích, số diện tích còn lại trong vùng chăn nuôi dùng để trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây xanh và xử lý chất thải… Ngoài chính sách ưu đãi cho vay, huy động vốn, các chủ trang trại, sản xuất khối lượng hàng hoá lớn, cần có thị trường ổn định, bền vững, với việc ưu tiên đầu tư, xây dựng cơ sở chế biến, giết mổ. Nhân rộng mô hình trang trại chăn nuôi an toàn, di dời các cơ sở chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường ra xa khu dân cư.
Văn Lượng