PGS.TS.Nguyễn Như Phát góp ý dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng XI

Trong giai đoạn hiện nay, xã hội, cả người dân bình thường và quan chức, đang tràn lan sự “ấm ức”, vì Nhà nước Pháp quyền không được thực hiện đúng. Đâu đó người làm chính sách vẫn “bỏ rơi” PL và dường như có một hệ thống lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước tồn tại song song với PL NN nên giá trị tốt đẹp của NNPQ có thể bị tổn hại.

Về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

PGS.TS.Nguyễn Như Phát - Viện trưởng Viện Nghiên cứu NN&PL

Xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) XHCN là một trong những mục tiêu quan trọng trên tiến trình phát triển của nước ta. Tại Đại hội Đảng XI sắp tới, vấn đề xây dựng NNPQ sẽ tiếp tục được thảo luận để làm rõ hơn.

Nhận thức chưa đủ nên còn “lúng túng”

Khái niệm NNPQ nên được hiểu như thế nào trong tiến trình đi lên XHCN ở nước ta?  Cần khẳng định rằng, NNPQ không phải là một hình thức hay kiểu Nhà nước, mà là một cách thức tổ chức thực hiện quyền lực NN trong bối cảnh có pháp luật. Đây là một phương pháp quản lý NN, xã hội hiện đại và tiến bộ, mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều theo.

NNPQ sinh ra để minh định trên thực tế các quyền lực NN trong xã hội. Điều này được thể hiện rất căn bản trong nguyên tắc phân công và phối hợp trong tổ chức bộ máy NN qui định tại HP 1992. Theo đó, mỗi chủ thể của quyền lực NN chỉ có những quyền hạn luật (cụ thể là HP) định. Đây chính là vấn đề định biên quyền lực của NNPQ để NN và các chủ thể quyền lực NN không thể lộng và lạm quyền.

Song, trong giai đoạn hiện nay, xã hội, cả người dân bình thường và quan chức, đang tràn lan sự “ấm ức”, vì NNPQ không được thực hiện đúng. Đâu đó người làm chính sách vẫn “bỏ rơi” PL và dường như có một hệ thống lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước tồn tại song song với PL NN nên giá trị tốt đẹp của NNPQ có thể bị tổn hại.

Đi sâu phân tích các nguyên nhân khiến việc xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta giai đoạn này còn chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nướccho thấy, nguyên nhân đầu tiên là ta chưa có nhận thức đầy đủ về nội hàm cơ bản của NNPQ nên còn “lúng túng” trong xác định cách thức thực hiện. Bên cạnh đó là những nguyên  nhân từ chính PL và bản thân hệ thống PL hiện hành. Tiếp đó là yêu cầu kiểm soát quyền lực trong NNPQ. Hiện Quốc hội có quyền giám sát tối cao nhưng thiết chế nào giám sát Quốc hội cũng là vấn đề cần được bàn để NNPQ có thể được hình thành đúng và đầy đủ.

Tính chính đáng của NN và pháp luật có ảnh hưởng đến hiệu quả của tiến trình xây dựng NNPQ XHCN hiện nay ở Việt Nam, nhưng lại ít được đề cập. NNPQ không “quan tâm” đến cơ quan nào có quyền lực hơn cơ quan nào, mà chỉ nhìn nhận các cơ quan trong hệ thống, các tổ chức được làm những việc do PL “phân vai”. Vì vậy, việc một thiết chế được thành lập hay một đạo luật được ban hành đều cần được xem xét đến tính chính đáng, bên cạnh tính hợp hiến, hợp pháp. NNPQ không chỉ quan tâm việc đưa pháp luật vào cuộc sống mà còn phải “đưa cuộc sống vào pháp luật”.

Một lý do nữa là do thực trạng NNPQ ở nước ta còn “hơi thấp” do chưa xác định được việc xây dựng NNPQ đã thực sự là quyết tâm chính trị hay chỉ là động thái trước sức ép hội nhập. Bởi phải có quyết tâm chính trị mới đặt ra câu chuyện tổ chức thực hiện được.

Ngoài ra, việc xây dựng NNPQ XHCN còn cần đến thời gian. Các quốc gia đã xây dựng NNPQ đều cần hàng chục, thậm chí cả trăm năm để có được hiện thực NNPQ như hôm nay và vẫn còn phải hoàn thiện. Việt Nam cũng không thể là ngoại lệ. Tuy nhiên, trong bối cảnh “một ngày bằng 20 năm” ta không thể ỳ ạch và thăng trầm như trong lịch sử hình thành và phát triển NNPQ.

Có hiện tượng “vụ lợi”

Trong bản thân nội dung của PL, của hệ thống PL cũng đang ẩn chứa những yếu tố chủ quan và khách quan khiến việc xây dựng NNPQ chưa thể đáp ứng yêu cầu, còn nhiều hạn chế. Yếu tố khách quan rõ nhất là có nhiều vấn đề, hiện tượng trong quá trình xây dựng NNPQ còn rất mới và chưa thể “ăn nhập” với điều kiện nước ta nên ta chưa biết cách để giải quyết, xử lý thích hợp.

Yêu cầu hội nhập khiến chủ quyền lập pháp quốc gia trở nên tương đối vì đã cam kết với quốc tế nên ta không thể “chơi một mình”, mà phải theo xu thế chung. Tại đây, sự “cân đối” về tính phổ biến và tính đặc thù cần phải được làm rõ về phương diện định lượn”.

Chính qui trình làm luật hiện nay đã “đóng góp” không nhỏ cho hạn chế này khin còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết. Không ít trường hợp, thông qua làm luật, người ta vụ lợi bằng cơ chế hay nói cách khác, vụ lợi được hợp thức hóa bằng pháp luật.  Hiện tượng đó mới đáng sợ vì hành vi vụ lợi đó sẽ trở nên vô tận cùng sự tồn tại của qui định PL, khiến tính NNPQ bị giảm sút.

Bởi lẽ, trong cơ chế làm luật, từ vấn đề phân tích và xác định chính sách cho đến phân công và tổ chức soạn thảo rồi đến thẩm định và thông qua, chỉnh lý…có thể vẫn còn những “khe hở” nên có thể vẫn có những quy định được “lọt lưới” và vụ lợi ngành hay cá nhân vì thế có “cơ sở pháp lý”.

“Nếu đạo luật biết nói, các nhà làm luật sẽ rất lo”, nhưng vì các đạo luật không biết nói nên trong thực trạng hệ thống PL vẫn còn chưa ăn nhập thì việc thực hiện PL cũng rất khó. Nếu không cải cách sẽ là một trong những lý do để hệ thống PL kém, không đi vào cuộc sống, “màu sắc” PL trong xã hội sẽ “nhờ nhờ” và tính NNPQ trong xã hội sẽ thấp.

(Còn tiếp)