Ô nhiễm môi trường biển ảnh hưởng không tốt tới phát triển thuỷ sản
Trong thực tế, nguy cơ ô nhiễm môi trường biển ở Hải Phòng ngày càng cao, ảnh hưởng không tốt tới phát triển bền vững kinh tế-xã hội thành phố, nhất là ngành thuỷ sản. Phóng viên Báo Hải Phòng có cuộc trao đổi với Viện trưởng Viện Tài nguyên –Môi trường biển Trần Đức Thạnh về vấn đề này
- Viện trưởng cho biết tình trạng ô nhiễm môi trường biển ở Hải Phòng?
- Ô nhiễm dầu thực sự là vấn đề nghiêm trọng ở vùng ven biển Hải Phòng. Hàm lượng dầu ở vùng nước có xu hướng tăng cao trong các khu vực cửa sông, gần khu vực cảng, bến đỗ tàu thuyền. ở vùng cảng chính, hàm lượng dầu rất cao, 1,2-3,2mg/l. ở đông nam Cát Bà, ô nhiễm dầu thường ở mức 0,35mg/l, có khi tới 0/7mg/l; bãi tắm Đồ Sơn ở mức 0,3-0,8mg/l, có khi vượt 1mg/l. Từ năm 1995 đến 2002, mức độ ô nhiễm dầu có xu hướng gia tăng, hệ số ô nhiễm dầu trong nước khu vực cửa sông Bạch Đằng tăng từ 1,1mg/l lên đến 2,2mg/l. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ô nhiễm kim loại nặng ở đất, nước ven bờ biển Hải Phòng đáng được quan tâm. Sự ô nhiễm chất bảo vệ thức vật đáng lo ngại. Hàm lượng xy-a-nua trong nước quanh đảo Bạch Long Vĩ rất cao, 100% số mẫu có hàm lượng vượt quá giới hạn cho phép 8-22 lần. Một trong những ô nhiễm đặc trưng là ô nhiễm đục ở khu vực Cát Bà, Đồ Sơn...So với năm 1989, nước biển ở Cát Bà đục hơn, nhạt hơn, độ mặn giảm, dẫn đến tăng quá trình bùn lắng. Theo dự báo, tình trạng nước đục ở biển Hải Phòng sẽ tăng mạnh, có thể lan sang Vịnh Hạ Long.
- Ô nhiễm môi trường biển tác động như thế nào đối với ngành thuỷ sản ?
- Sự có mặt của xy-a-nua trong môi trường biển có khả năng giết chết các loài sinh vật và huỷ diệt nhiều hệ sinh thái biển. Hiện tượng san hô chết trắng từng xuất hiện ở vùng biển Bạch Long Vĩ. Khu vực đông nam Cát Bà, lượng san hô chết khoảng 50% so với năm 1989. Dải ven bờ, đặc biệt là các cửa sông, vùng vịnh, tùng, áng là các bãi giống quan trọng cho việc duy trì sản lượng nghề cá. Tình trạng nhiễm bẩn làm suy thoái tài nguyên sinh học, ảnh hưởng đến cá nghề ven biển và ngoài khơi. Những biến động môi trường ven bờ đe doạ sự tồn tại của nhiều loại sinh vật biển . Các loài cá có giá trị kinh tế cao như cá hồng, cá mú, thu, sủ....suy giảm sản lượng đánh bắt nhiều lần. Một số loài hải sản có nguy cơ cạn kiệt như bào ngư, tôm hùm, tu hài, vẹm xanh, sò huyết...Vì vậy, trong lĩnh vực thuỷ sản, sản lượng đánh bắt tuy tăng, nhưng năng suất và chất lượng kém hơn. Nghề cá biển phải đối mặt với nguy cơ suy giảm nguồn lợi. Môi trường sinh thái khu vực nuôi thuỷ sản nước mặn, nước lợ suy thoái. Nhiều đầm nuôi quảng canh diện tích quá lớn, ít cống, máng nên thường bị phơi vạn và phèn hoá làm năng suất suy giảm nghiêm trọng. Phần lớn đầm nước trong tình trạng tù túng, yếm khí hoặc ô-xy hoá gây chua, phèn.Thực vật trong đầm chết dần, rong tạp, lau sậy phát triển mạnh, nền đáy đầm bị thô cứng hoá..
- Nguyên nhân chính của tình trạng này là gì ?
- Ngoài các nguyên nhân từ các hoạt động công nghiệp, dịch vụ du lịch, cảng, chất thải đô thị..., có nguyên nhân từ chính hoạt động thuỷ sản. Hoạt động nghề cá tăng liên tục gây áp lực giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi thuỷ sản, trực tiếp gây ô nhiễm hữu cơ và bùng phát “thuỷ triều đỏ”. Tình trạng chặt phá rừng ngập mặn phát triển nuôi trồng thuỷ sản vẫn chưa chấm dứt. Sự gia tăng mạnh các phương tiện đánh bắt thuỷ hải sản; các ngư cụ còn lạc hậu, sử dụng cả những loại lưới mắt nhỏ đánh bắt cạn kiệt nguồn giống, làm mất khả năng tái tạo nguồn lợi. Hình thức đánh bắt huỷ diệt như dùng mìn, điện, thuốc gây mê, thuốc độc đánh bắt hải sản quý làm môi trường bị ô nhiễm, huỷ diệt nguồn giống. Có trường hợp san hô chết hàng loạt do nổ mìn, đánh bắt hải sản, khai thác san hô làm đồ mỹ nghệ...Bên cạnh đó, vẫn tồn tại mâu thuẫn trong phát triển giữa ngành thuỷ sản với các ngành khác như nông nghiệp, công nghiệp, du lịch và mẫu thuẫn trong nội bộ ngành thuỷ sản, tiêu biểu là giữa nuôi trồng và đánh bắt.
- Cần giải quyết tình trạng này như thế nào?
- Hải Phòng có ưu điểm là hoạt động thuỷ triều mạnh, khả năng làm sạch môi trường tốt. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển hiện nay, thành phố cần quan tâm hơn nữa đến công tác bảo vệ môi trường sinh thái biển, tạo điều kiện để ngành thuỷ sản phát triển bền vững. Phải giải quyết tận gốc vấn đề, gắn việc phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Thành phố cần chỉ đạo các cơ quan chức năng đẩy mạnh hơn nữa công tác thanh tra, giám sát và xử phạt nghiêm các hoạt động ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường biển, nhất là các hoạt động mang tính huỷ diệt nguồn lợi. Quy hoạch xây dựng các khu bảo vệ tự nhiên biển như: khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ đất ngập nước, vườn quốc gia và công viên biển, khu dự trữ sinh quyển và khu bảo tồn biển...Đặc biệt chú trọng công tác nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo vệ tài nguyên, môi trường biển.
-Cảm ơn Viện trưởng!