"Nuôi con tu hú"

Không ít quy định của pháp luật về vấn đề con nuôi đã trở nên bất cập. Điều đáng nói là bất cập này của luật đã gây ra không ít nước mắt tại những phiên tòa cho những ông bố, bà mẹ đã trót “nuôi con tu hú”.

Cũng như bản thân Luật Hôn nhân – Gia đình, các điều khoản liên quan đến vấn đề con nuôi trong đạo luật, bên cạnh những mặt được, qua thời gian thưc hiện cũng đã bắt đầu cho thấy bất cập.

Điều đáng nói là bất cập này của luật đã gây ra không ít nước mắt tại những phiên tòa cho những ông bố, bà mẹ đã trót “nuôi con tu hú”.

tre em can duoc quan tam.jpg
Khi nhận con nuôi, mấy ai mong mình rơi vào cảnh "nuôi con tu hú"


"Ai bảo ông bà ấy nhận nuôi tôi"


Nhiều năm trước , vì không thể sinh nở được nên chị M  đã nhận nuôi một bé trai.

Việc nhận và nuôi dưỡng bé trai này của vợ chồng chị M được chính quyền, làng xã chứng nhận về mặt giấy tờ cũng như dư luận xã hội.

Những tưởng con lớn lên họ sẽ có chỗ cậy nhờ, nào ngờ. Do hiếm hoi nên con nuôi được hai vợ chồng chị yêu chiều hơn những đứa trẻ cùng lứa khác.

Hậu quả là do được chiều nên thói hư,tật xấu đã nhanh chóng nhiễm vào cậu bé. Bé thì bỏ học, lê la, lớn thì cờ bạc, đề đóm.

Không ít lần cậu đã bắt bố mẹ nuôi phải còng lưng trả nợ tiền cho những chiếc xe máy cậu đã “trót” mượn bạn bè để cắm quán.

Rồi cậu lại bị đi tù vì trộm cắp.

Không thể kể hết những đau khổ mà cậu đã gây ra cho bố mẹ nuôi.

Ra tù, thay vì đối xử tình nghĩ với bố mẹ, cậu con nuôi lại ngày ngày mắc nhiếc, rủa xả họ là gánh nặng đeo bám.

Cực chẳng đã, họ đã đâm đơn ra tòa xin chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Ngày nhận nuôi con, họ còn trẻ khỏe làm ra kinh tế, nay khi chấm dứt họ đã già cả mẳt mờ, chân chậm, nhưng mỗi khi họ hay láng giềng đả động đến chuyện phụng dưỡng, trả ơn, thì con người đã từng là con nuôi của họ kia lại thản nhiên trả lời : Ai bảo ông bà ấy nhận nuôi tôi?!

"Nuôi con tu hú"
Nhiều trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi - Ảnh minh họa


Câu chuyện trên là một trong muôn vàn những chuyện đau lòng của các ông bố bà mẹ đã trót “nuôi con tu hú” hiện nay.

Những đứa con nuôi bạc nghĩa như vậy, về tình thì đã sai rõ ràng, nhưng về lý thì hình như chúng lại cũng không hề sai, bởi quy định của pháp luật (?)


Phải chăng nghĩa vụ nhẹ hơn quyền?


Theo quy định của Luật HN-GĐ năm 2000, cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ của con theo quy định tại luật (ví dụ như quyền thương yêu, chăm sóc, nghĩa vụ nuôi dưỡng, phụng dưỡng...) kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi.

Thế nhưng, trong trường hợp câu chuyện nuôi dưỡng, tình cảm mà không xuôi chèo mát mái thì cha mẹ nuôi và con nuôi cũng có thể chấm dứt quan hệ của mình theo các căn cứ trong Điều 76 của Luật như tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi; con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi; nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động.

..Và, hậu quả pháp lý của hành động chấm dứt này là “khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Tòa án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm dứt... – Khoản 1 Điều 48 Luật HN-GĐ”.


Có thể hiểu với quy định như vậy, mà không có những hướng dẫn cụ thể hơn, pháp luật đã vô hình chung tiếp tay cho sự bạc tình bạc nghĩa, thói phủi tay vô trách nhiệm của những đứa con nuôi với chính cha mẹ nuôi của mình.

Theo một nghiên cứu của Tiến sĩ Huỳnh Công Bá thì :  “Rõ ràng một sự quy định như vậy là rất thiếu sót và không thỏa đáng chút nào! Những người con nuôi bất nghĩa đã thành niên muốn trốn tránh nghĩa vụ đền ơn đáp nghĩa đối với cha mẹ nuôi sẽ dựa vào đây để xin chấm dứt quan hệ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Vô tình luật pháp đã mở đường cho sự vong ơn bội nghĩa và làm ảnh hưởng đến đạo đức tình nghĩa cổ truyền của người Việt Nam”
Xuân Hoa