Nữ liệt sĩ trung kiên Hoàng Ngân và mối tình bất tử với chiến sĩ cách mạng Hoàng Văn Thụ
Tình cờ lên website Họ Phạm Việt Nam (www.hopham.org), tôi được đọc những tư liệu quý về một nữ liệt sĩ mang họ Phạm. Lịch sử biết đến chị với cái tên Hoàng Ngân, người cộng sản trung kiên. Trước đó, tôi biết mối tình bất tử trở thành huyền thoại của chị với Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ Hoàng Văn Thụ qua bài viết đăng trên Báo Thái Nguyên cuối tuần. Chuyện tình của họ gắn với những giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, trở thành những câu chuyện không bao giờ quên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày 15-7-2003, Phạm Thị Vân (tức Hoàng Ngân) được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.
Họ Phạm Việt Nam tự hào về chị, song thành phố Cảng còn tự hào hơn gấp nhiều lần khi Hoàng Ngân là một người con của thành phố bên bờ biển Đông này. Người Hải Phòng luôn nhớ đến chị còn bởi, hiện nay ở khu vực trung tâm thành phố, có đường phố mang tên người liệt sĩ trung kiên Hoàng Ngân.
Chị tên thật là Phạm Thị Vân, sinh năm 1921 ở phố Quang Trung, thành phố Hải Phòng. Mẹ chị là bà Vũ Thị Đỗi, bố là ông Phạm Trung Long từ công nhân mỏ đã đóng tàu, thuê người đánh bắt hải sản và trở thành một gia đình khá giả có tiếng ở Hải Phòng. Ngày còn nhỏ, Phạm Thị Vân thông minh, học giỏi. Con đường đến với cách mạng của chị cũng thật tình cờ. Một buổi đi học về, thấy trong nhà có khách lạ, bố mẹ tỏ ra rất quý trọng. Tò mò tìm hiểu, Vân được biết đó là anh Tô Hiệu, chú Hoàng Quốc Việt và anh Hoàng Văn Thụ. Lúc ấy, chị mới vừa 14 tuổi (năm 1935). Thế là, Vân bắt đầu tham gia cách mạng với công việc đầu tiên là làm liên lạc, qua “mũi” bọn mật thám, mã tà, Việt gian để đưa thư từ, công văn tới các chú, các anh từ chợ Sắt, nhà máy Tơ, chợ Cột Đèn qua bến Bính, Thuỷ Nguyên… Vừa đi học, vừa làm liên lạc từ năm 1936-1938, Vân trở thành một cán bộ rất trẻ của phong trào vận động thanh niên, phụ nữ dân chủ. Đặc biệt, chị được Xứ uỷ tín nhiệm giao trọng trách “Hộp thư liên lạc đặc biệt” của Xứ uỷ ở Hải Phòng, Quảng Ninh và là Thường vụ Phụ nữ giải phóng. Thời kỳ này, chị Vân trực tiếp phụ trách nhiều phong trào quần chúng vận động cả thanh niên, phụ nữ, tiểu thương, nhất là công nhân lao động trong các nhà máy, liên tục mở ra các cuộc bãi công, đình công, biểu tình phản đối giới chủ đánh đập, đuổi việc, cúp lương công nhân.
Bà Phạm Thị Minh Hiền, em gái của liệt sĩ Hoàng Ngân cho biết, ngày 5-12-2007, hơn 58 năm sau ngày mất, nữ liệt sĩ Phạm Thị Vân được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định số 1481/2007/QĐ/CTN truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chị là 1 trong số 69 chiến sĩ cách mạng được truy tặng danh hiệu cao quý đợt này.
Năm 1936, Vân được đoàn thể phân công vận động nhân dân xây dựng một số cơ sở cách mạng tại Hà Nội, Hải Dương và Hải Phòng đồng thời với việc vận động hàng vạn nhân dân xuống đường biểu tình chống Pháp trong ngày Quốc tế Lao động 1-5-1938 tại khu Đấu Xảo, Hà Nội và cả 2 địa phương Hải Phòng, Sài Gòn. Chị rất thông minh, nhanh nhẹn, có tài diễn thuyết trước đông người, không những giới trẻ và công nhân lao động mà ngay cả giới tư sản buôn bán lớn ở Hải Phòng và trí thức cũ sau này theo kháng chiến cũng công nhận tài thuyết phục của chị nên mọi giới đều đồng tình ủng hộ.
Sau đợt biểu tình rầm rộ ấy, Vân cùng một số lãnh đạo phong trào bị sa vào tay giặc. 15 tuổi, song sự gan dạ và cứng rắn của cô gái Hải Phòng khiến giặc Pháp không thể khai thác được. Chúng bắt buộc phải thả chị sau nhiều ngày tra khảo không thành. Sau đó, Phạm Thị Vân tham gia Thành uỷ Hải Phòng, lúc đó do đồng chí Tô Hiệu làm Bí thư Thành uỷ. Ít lâu sau, đồng chí Tô Hiệu bị giặc Pháp bắt, đưa đi đày và hy sinh tại nhà tù Sơn La. Còn cô gái xinh đẹp đất Cảng được Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ Hoàng Văn Thụ giao làm công tác dân vận, binh vận, xây dựng một số cơ sở cách mạng ở Hà Nội, Hà Đông, Hưng Yên, Hải Dương…
Chuyện tình với Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ Hoàng Văn Thụ
Chuyện tình của Phạm Thị Vân có lẽ bắt đầu từ sự ngưỡng mộ, khâm phục người chiến sĩ cách mạng Hoàng Văn Thụ ngay từ lần đầu gặp mặt tại gia đình (năm 1935). Ngay cả bí danh Hoàng Ngân của chị cũng được lấy từ họ người mình yêu thương. Còn Hoàng Văn Thụ lại lấy tên của người yêu để làm bí danh của mình – Hồng Vân. Chuyện tình của họ trở thành huyền thoại trong suốt những năm tháng cách mạng thời kỳ ấy.
Năm 1939, làm nhiệm vụ mới do Xứ uỷ Bắc kỳ giao với vị trí Trưởng ban Dân vận, Binh vận, Hội trưởng phụ nữ giải phóng, chị thường xuyên đi công tác các tỉnh để nắm bắt tình hình, chỉ đạo kịp thời phong trào. Thời kỳ này, chị thường xuyên làm việc, tiếp xúc với anh Hoàng Văn Thụ. Kỷ niệm từ lần gặp mặt đầu tiên lại trở về. Chị càng cảm phục hơn người con trai dân tộc Tày, sinh ra trong một gia đình nhà Nho ở bản Phạc Lạn (huyện Văn Lãng, Lạng Sơn). Tuy là người dân tộc thiểu số ở miền núi, song anh Thụ lại có dáng thư sinh, bảnh bao như người ở thị thành Hải Phòng, Hà Nội. Trí thông minh và sắc bén trong chỉ đạo, tính quyết đoán khi giao nhiệm vụ của Hoàng Văn Thụ càng làm rung lên những cung bậc tình yêu trong lòng cô gái Phạm Thị Vân khi đó mới 16 trăng tròn. Hoàng Văn Thụ cũng rung động trước người thiếu nữ đất Cảng sớm giác ngộ cách mạng. Họ trở thành cặp đôi đồng chí, đồng lòng trong thực hiện các nhiệm vụ cách mạng.
Lễ đính hôn của hai chiến sĩ cách mạng
Yêu nhau trong bí mật, tìm hiểu nhau trong ánh sáng của cách mạng Việt Nam, lễ đính hôn của hai người chiến sĩ cách mạng cũng trở thành giai thoại không bao giờ quên.
Năm 1939, chị Vân vừa tròn 18 tuổi, anh Thụ khi đó 30 tuổi, sau một thời gian tìm hiểu, yêu thương, đồng chí Hoàng Quốc Việt và đồng chí Trường Chinh thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng chấp thuận cho hai người được về báo cáo gia đình để chuẩn bị kết hôn. Khi đó, anh Hoàng Văn Thụ lấy bí danh là Hồng Vân, theo tên chị Vân, còn chị Vân lấy bí danh là Hoàng Ngân, theo họ của anh Thụ. Lễ “chạm ngõ” của nhà trai cũng diễn ra trong bí mật. Ông giáo trường làng Hoàng Khải Lan (cha của Hoàng Văn Thụ) bí mật xuống Hải Phòng thưa chuyện cùng gia đình ông Phạm Trung Long. Hai gia đình nhanh chóng đi đến thống nhất. Bà Đỗi (mẹ chị Vân) làm mâm cơm ấm cúng tiếp ông thông gia. Lễ ăn hỏi, đính ước thiêng liêng diễn ra ngay sau đó. Đôi uyên ương Hoàng Văn Thụ - Phạm Thị Vân cũng chỉ gặp nhau được 20-30 phút cùng thắp hương trước ban thờ tổ tiên rồi tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ. Ông Hoàng Khải Lan, 1-2 giờ sau cũng bí mật lên tàu hoả ngược Lạng Sơn. Họ trở thành vợ chồng sắp cưới trong bí mật trước con mắt dò xét của bọn mật thám và Việt gian đầy rẫy khắp nơi. Sự phối hợp trong hoạt động của đôi uyên ương ngày ấy càng trở nên gắn bó.
Đầu Xuân 1941, anh Thụ, chị Vân cùng đi công tác ở Quảng Ninh làm việc với các đồng chí ở nước ngoài về qua đường Móng Cái. Tại Đông Triều, chị Phạm Thị Vân quan sát anh Hoàng Oánh huấn luyện quân sự, dịch và biên soạn tài liệu anh Oánh mang về thành tập tài liệu dùng huấn luyện cho lực lượng vũ trang vùng Quảng Ninh và nhiều nơi trước tháng 8-1945. Sau này, chị còn huấn luyện các đội du kích đường 5 ở Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương. Những kinh nghiệm chị truyền đạt lại cho anh em như đánh tàu hoả chở vũ khí từ Hải Phòng-Hà Nội thì áp tai xuống đường ray nghe ước lượng khoảng cách để đánh mìn hoặc tháo tà vẹt, đường ray tàu... khiến giặc Pháp kinh ngại. Hoàng Văn Thụ càng thêm tin yêu người đồng chí, người bạn đời tương lai của mình.
Đám cưới trong chờ mong
Hợp nhau là vậy, yêu nhau là thế, chỉ tiếc rằng, mối tình của Hoàng Văn Thụ và Hoàng Ngân không bao giờ đi đến đám cưới trọn vẹn. Chia tay người yêu từ ngày 10 đến 19-5-1945, Hoàng Văn Thụ ngược lên Khuổi Nậm, Pác Bó dự Hội nghị Trung ương 8 họp tại đây do Bác Hồ triệu tập. Sau hội nghị, anh trở về điều hành cuộc họp Xứ uỷ mở rộng tại ngoại thành Hà Đông. Hoàng Ngân cũng có mặt trong cuộc họp này.
Cuộc họp đang tiến hành thì bị mật thám phát hiện cho lính bao vây. Mọi người phân tán theo kế hoạch nhưng không kịp. Chị Ngân cải trang chạy ra đến gần ga tàu điện Hà Đông thì bị mật thám phục sẵn bắt được. Sau 3 tháng giam chị Ngân ở Hà Đông, thực dân Pháp mang chị Ngân ra xét xử trong phiên toà đại hình có đủ đại diện toàn quyền Đông Dương, toà Hà Nội, Hà Đông. Chị Ngân bình tĩnh đứng trước vành móng ngựa. Chúng hỏi: “Phạm Thị Vân, là con gái một nhà buôn bán có tiếng sao không học hành buôn bán mà đi theo cộng sản nổi loạn?” Chị Ngân dõng dạc: “Nước tôi mất đã lâu, dân tôi bị bóc lột đến tận cùng, sưu cao, thuế nặng mà độc ác nhất là bắt đóng thuế thân, lại không được học hành, các ông còn dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nhân dân tôi ngu muội để dễ bề cai trị. Nên chúng tôi đấu tranh chứ chúng tôi không nổi loạn vì đây là đất nước của chúng tôi”. Trước toà án, Hoàng Ngân vạch mặt kẻ thù. Nữ chiến sĩ cộng sản 20 tuổi đã biến vành móng ngựa thành diễn đàn tuyên truyền cách mạng và vạch trần tội ác của chúng trước đông đảo nhân dân. Thấy tình hình bất lợi, toà vội vàng tuyên án chị 12 năm tù khổ sai rồi đưa chị về giam tại nhà tù Hoả Lò (Hà Nội).
Trong tù, chị tiếp tục động viên tù chính trị kiên trì đấu tranh với bọn cai ngục, đòi ra sân phơi nắng để có điều kiện liên lạc, đòi được tổ chức học chữ lấy cớ để đọc được thông báo của nhà tù. Chị vừa dạy văn hoá, vừa tranh thủ nâng cao trình độ chính trị cho chị em để phục vụ đấu tranh cách mạng. Đến khi địch phát hiện đánh đập tra khảo người dạy học thì chị em nhất tề đấu tranh đòi tuyệt thực để phản đối.
Biến nỗi đau thành lý tưởng cách mạng
Đám cưới của hai chiến sĩ cách mạng mãi mãi chỉ còn trong chờ mong. Sau khi Hoàng Ngân bị địch bắt và chịu án tù giam 12 năm trong Hỏa Lò, Hoàng Văn Thụ nén nỗi đau dồn sức cùng anh em, tổ chức chống khủng bố tàn bạo của giặc. Sau Hội nghị Ban Thường vụ 1943 ở Võng La (Đông Anh) triển khai Nghị quyết “Toàn bộ công tác của Đảng phải nhằm vào chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang”, Hoàng Văn Thụ bị giặc bắt rồi tuyên án tử hình. Anh lãnh đạo chi bộ nhà tù Hoả Lò đấu tranh chống cai trị hà khắc, tổ chức học tập chính trị. Còn Hoàng Ngân vận động anh chị em nữ tù đòi làm cỏ, được phơi nắng ngoài sân, được nhận đồ tiếp tế của gia đình, được mở lớp học chữ, không cắt tóc ngắn, không ăn gạo hẩm, cá thối ... qua ánh mắt trao gửi của anh Thụ mỗi lần nhìn thấy nhau ngoài bãi phơi nắng, chị Vân nhận được tình yêu thương rất nhiều của người chồng đính ước của mình.
Do giặc Pháp không cho người lớn vào tiếp tế, nên cô bé Phạm Thị Minh Hiền (em ruột chị Vân) ngày ấy mới 10 tuổi đã thay chị 4 năm trời khéo léo qua mắt cai ngục tiếp tế thuốc men, thực phẩm, giấy bút cho anh chị tiếp tục sự nghiệp cách mạng. Cảm động hơn, có lần được em gửi cho chiếc áo len, thương người yêu phải nằm trên nền xi-măng lạnh lẽo, Hoàng Ngân đã tháo ra đan thành chiếc áo len cao cổ giấu cai ngục gửi cho anh. Tình yêu của chị giúp anh vượt qua những giây phút khổ sai trong kìm kẹp của bọn cai tù và thực dân Pháp.
(Còn tiếp)
Thuỳ Linh