Nông nghiệp Hải Phòng: Sản xuất hàng hóa ngày càng rõ nét, hiệu quả

Theo Sở Nông nghiệp- PTNT, những năm qua, nhờ nỗ lực thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa theo tinh thần Nghị quyết 32, nông nghiệp Hải Phòng có bước chuyển dịch cơ cấu đáng mừng.

Theo Sở Nông nghiệp- PTNT, những năm qua, nhờ nỗ lực thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa theo tinh thần Nghị quyết 32, nông nghiệp Hải Phòng có bước chuyển dịch cơ cấu đáng mừng.

 

Nông nghiệp Hải Phòng: Sản xuất hàng hóa ngày càng rõ nét, hiệu quả

Khu trồng dưa trong nhà kính của Trung tâm giống, phát triển nông, lâm nghiệp công nghệ cao Hải Phòng

Ảnh: Duy Lân

 

Chuyển đổi cơ cấu theo hướng CNH- HĐH

 

So với năm 2003 (thời điểm thực hiện Nghị quyết 32), năm 2009 tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt giảm từ 69,9% xuống còn 55,65%; chăn nuôi tăng từ 28,1% lên 42,12%; dịch vụ nông nghiệp tăng từ 2% lên 2,3%.  Về tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2003-2009: giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản tăng 5,63%/năm, trong đó trồng trọt tăng 1,9%; chăn nuôi tăng 8,25%; thuỷ sản tăng 13,22%. Giá trị sản xuất lâm nghiệp giảm 4,32%.

 

Nông nghiệp là ngành sản xuất chịu nhiều rủi ro nhất trong các ngành kinh tế, trước sức ép của đô thị hoá, diện tích đất nông nghiệp bị giảm mạnh, nhất là nhóm cây lương thực (bình quân giảm 974ha/năm). Hiện tượng thiếu lao động thường xuyên xảy ra, nhất là vào thời vụ, thời tiết diễn biến vô cùng phức tạp trước tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu. Song, nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; chuyển dịch cơ cấu trà, vụ, giống…đúng hướng; dồn điền đổi thửa để hình thành vùng sản xuất hàng hoá, trong 7 năm, từ 2003-2009, giá trị sản xuất nhóm ngành nông – lâm, thủy sản tăng bình quân 5,55%/năm; giá trị sản xuất tăng từ 2.501,5 tỷ đồng lên 3.276,9 tỷ đồng góp phần ổn định tăng trưởng của thành phố.

 

Chuyển biến mạnh trong ứng dụng khoa học kỹ thuật

 

Theo ông Dương Đức Tùng, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp- PTNT, trên cơ sở lấy hiệu quả kinh tế để lựa chọn hướng đầu tư, ngành nông nghiệp tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng cây trồng, con vật nuôi, hướng tới một nền nông nghiệp bền vững.

 

Trong những năm qua, việc đưa công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp sôi nổi và đạt những bước tiến quan trọng. Thành phố xây dựng khu phát triển nông nghiệp công nghệ cao đầu tiên với quy mô và công nghệ hiện đại nhất miền Bắc. Các mô hình ứng dụng công nghệ sinh học được nhân rộng. Điển hình là mô hình sản xuất giống khoai tây Hà Lan vụ xuân bảo quản kho lạnh, tạo củ giống sạch bệnh, chất lượng cao; mô hình nhân giống cây ăn quả, cây lâm nghiệp, trồng hoa, cây cảnh bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào; sản xuất rau an toàn, rau cao cấp quanh năm trong nhà lưới… Trong giai đoạn đoạn 2003- 2009, thành phố phê duyệt để triển khai hơn 200 nhiệm vụ khoa học- công nghệ trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn, tập trung vào việc lai tạo, tuyển chọn giống cây trồng vật nuôi mới, xây dựng và ứng dụng các quy trình công nghệ mới và các mô hình mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất được xây dựng mới, như: 17 kho lạnh dung tích 1.800m3, 19 nhà lưới diện tích 22.200m2, hệ thống tưới nước theo công nghệ tưới phun công suất 500m3/ giờ đủ cho 150 ha canh tác… Nhờ vậy, đến nay, toàn thành phố có khoảng 2000 ha đất canh tác áp dụng công nghệ trồng cây có vòm che, màng phủ nông nghiệp. 10.000 ha đất canh tác có thể sản xuất 3-4 vụ/ năm, cho thu nhập trên một đơn vị canh tác hơn 50 triệu đồng/ ha/ năm.

 

Hải Phòng hiện là địa phương đi đầu miền bắc về sản xuất hạt giống lúa lai F1 và tiên phong trong cả nước về mùa bản quyền công nghệ, chuyển giao công nghệ sản xuất giống lúa lai F1… Nông nghiệp Hải Phòng xuất hiện nhiều mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp mới như: HTX chăn nuôi, HTX trang trại, câu lạc bộ trang trại, trang trại chăn nuôi gia công, vùng sản xuất nông sản thông qua hợp đồng bao tiêu sản phẩm, tổ hội dịch vụ nông nghiệp, tổ hội cơ khí hóa nông nghiệp… Bước đầu, nông dân Hải Phòng ở rộng  việc liên kết trong sản xuất thay cho sản xuất quy mô hộ nhỏ lẻ như trước.

 

Phát triển nông nghiệp đô thị và vùng sản xuất hàng hóa

 

Để sản xuất hàng hoá cung cấp cho người tiêu dùng,chủ yếu là dân đô thị, tại khu vực ngoại thành từng bước hình thành các vùng sản xuất chuyên canh để thâm canh đầu tư sản xuất. Trên địa bàn thành phố những năm gần đây hình thành ngày càng nhiều vùng trồng hoa, cây cảnh tại các khu vực ven đô An Dương, Vĩnh Bảo, Thuỷ Nguyên. Toàn thành phố còn có vùng rau xanh tập trung với tổng diện tích gần 15.000 ha tại các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, Thủy Nguyên, Kiến Thụy, An Dương; vùng lúa cao sản và lúa chất lượng rộng hơn 30 nghìn ha ở các huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, An Lão. Tại các vùng sản xuất tập trung này, nhiều công nghệ mới được nhanh chóng áp dụng như: giống mới, nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới…để tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng tốt phục vụ đô thị...

 

Cùng với phát triển vùng sản xuất nông sản hàng hóa, các huyện phát triển mạnh kinh tế trang trại, góp phần phát triển nông, lâm nghiệp, thuỷ sản theo hướng hàng hoá, đẩy mạnh phục vụ đô thị và tạo dựng cảnh quan sinh thái. Số lượng trang trại tăng nhanh, loại hình sản xuất đa dạng góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp; phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, phục vụ đô thị và bảo vệ môi trường. Đến năm 2009, toàn thành có 1.600 trang trại, tăng gấp 4 lần năm 2003. Kinh tế trang trại phát triển góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn. Năm 2009, các trang trại của Hải Phòng sử dụng 4.503 lao động làm việc thường xuyên, bằng 2,3 lần năm 2003. Trong quá trình phát triển, các trang trại có sự liên kết về công nghệ, tiêu thụ sản phẩm để tạo vành đai xanh phục vụ vùng đô thị...

 

Hoàng Yên