Nissan Sentra SL 2007 - Không thật sự ấn tượng

(AutoNet) - Nissan Sentra, mác xe bình dân, khá phổ biên trong thập kỷ 90. Tuy nhiên trong giai đoạn 2001-2006 Nissan Sentra dần đánh mất hình ảnh của mình.

Nissan Sentra SL 2007 - Không thật sự ấn tượngTại thị trường Việt Nam, khi các nhà sản xuất xe Nhật Bản: Honda, Toyota, Mazda đều đã tới và tung ra sản phẩm phổ biến Civic, Mazda3 và Corolla được khá nhiều người dân trong nước biết tới và tin dùng thì cái tên Sentra của nhà sản xuất xe nổi tiếng Nissan vẫn còn rất xa lạ với đại bộ phận người dân.

Là một mẫu xe bình dân nhưng Nissan Sentra khá phổ biên trong thập kỷ 90, với phiên bản Nissan SE-R đã nhiều lần lọt vào danh sách 10 mẫu xe xuất sắc nhất của năm do tạp chí danh tiếng Car&Driver bình chọn. Đây được coi như một chiếc compact giá bình dân nhưng lại rất được ưa thích. Tuy nhiên, kể từ năm 2001 trở lại đây, Nissan Sentra dần đánh mất hình ảnh của mình, Sentra đã không làm được những gì mà Honda Civic, Mazda3 và Toyota Corolla đã làm.

Dù đã được cải biến nhiều, nhưng Sentra phiên bản 2007 vẫn chưa đáp ứng được sự trông đợi của người tiêu dùng. Nissan cũng đã cố gắng sửa chữa các yếu điểm của thế hệ trước và bắt kịp được xu hướng thiết kế thân xe hiện đại, nhưng với hình thức bề ngoài không có gì nổi bật, Sentra khó có thể tạo nên một sự khác biệt.

1.jpg

Về căn bản, Sentra 2007 lớn hơn so với các model trước, tuy nhiên tính năng an toàn được Nissan ưu tiên lên hàng đầu. Với thiết kế khung xe có  cấu trúc chắc chắn, vững chắc kết hợp với kết cấu trần xe đã giúp tăng tính năng an toàn cao nhất cho chiếc Sentra. Trang bị tiêu chuẩn 6 túi khí và hệ thống chủ động phía trước giúp làm giảm bớt lực siết của dây đai an toàn khi xe tăng tốc, Sentra tạo một cảm giác an toàn tuyệt đối cho người sử dụng. Thêm vào đó là các đặc tính tiêu chuẩn được Nissan trang bị trong mẫu Sentra 2007 như: hộp số sàn 6 cấp, có lựa chọn phiên bản optional sử dụng hộp số CVT và ghế bọc da, hệ thống kết nối Bluetooth, khoang hành lý rộng rãi, và hệ thống audio của Rockford Fosgate… Mẫu Nissan Sentra mới tuy có nhiều điểm tương đồng như các mẫu  Altima và Maxima nhưng lại không thu hút được sự hâm mộ như các mác xe này.

Phiên bản Nissan Sentra 2.0 SL sử dụng động cơ 2,0 lit 4 xi-lanh công suất 140 mã lực, hệ thống lái điện tử. Cùng với trang bị vành hợp kim 16 inch, hệ thống phanh ABS, hệ thống điều hòa lực phanh điện tử, hệ thống điều chỉnh độ cao ghế người lái, và hệ thống loa trước đã được nâng cấp, phiên bản 2.0 SL đắt hơn 4000 USD so với 2 phiên bản Sentra thường.

Nội thất ấn tượng

Sentra có cabin cao và vị trí ghế ngồi cũng cao hơn so với mẫu Sentra trước, rộng rãi đủ cho 4 người trưởng thành. Chiều dài cơ sở dài hơn và thiết kế trần xe khá cao hàng ghế sau tạo cảm giác khá thoải mái khi ngồi. Tuy vậy Nissan Sentra 2.0 SL cũng có nhược điểm thấy rõ đó là panel ốp nhựa ở cửa sau rẩt rễ sước khi thực hiện thao tác đóng mở cửa xe.

5.jpg 4.jpg

Tầm nhìn của chiếc Sentra 2.0 SL được đánh giá tốt tuy nhiên do nắp khoang chứa đồ phía sau khá cao vì vậy sẽ hạn chế phần nào khả năng quan sát khi chiếc xe chạy lùi. Vật liệu chế tạo hộp chức năng và vật liệu vải bọc ghế có nhiều cải tiến hơn so với mẫu xe khác của Nissan, lớp vải bọc ghế ngồi được đan kiểu ô cá và phần ốp kim loại trên tay nắm cần số gây nhiều ấn tượng. Hộp điều khiển phụ kiện được bố trí thuận tiện, cần số bố trí ở vị trí khá cao tạo điều kiện người lái có thể vận hành chiếc xe được dễ ràng. Đồng hồ công tơ mét và đồng hồ vòng tua máy loại tròn được thiết kế theo kiểu truyền thống phía sau vành lái, thêm vào đó là đồng hồ điên tử riêng hiển thị mức nhiên liệu và nhiệt độ nước làm mát động cơ. Các chỉ số đo quãng đường chạy và cấp số của hộp số cũng đều được hiển thị bằng điện tử. Tất cả thiết kế này đều nhằm giúp người lái có thể nắm bắt được tình trạng chiếc xe một cách dễ ràng nhất.

9.jpg

Phía dưới màn hình hiển thị của hộp chức năng là hệ thống điều khiển radio và nhạc. Màn hình hiển thị trên bảng chức năng có tích hợp chức năng cảnh báo tình trạng đóng mở cửa xe. Hệ thống âm thanh trên xe với 8 loa gồm: 2 loa siêu trầm, 4 loa trầm loại  trung và 2 loa giọng cao được đánh giá khá tốt. Điểm đặc biệt là mẫu Sentra 2.0 SL được tích hợp hệ thống Bluetooth phone trên vô lăng giúp người lái vừa lái xe an vừa có thể nói chuyện điện thoại rễ rang. Nút điều khiển âm thanh và ga tự động được bố trí thuận tiện ngay trên vô lăng người lái.

6.jpg 8.jpg

Giữa hai ghế trước là chỗ để cốc có thể điều chỉnh kích cỡ với lúm điều chỉnh nhỏ phía trên, ngay cạnh vị trí đặt cốc là khoang nhỏ dùng chứa đĩa CD. Ghế sau có thể ngả nghiêng ra sau theo tỷ lệ tiêu chuẩn 60/40. Một điểm đặc biệt là rào chắn giữa ghế sau và khoang để hành lý đã được dỡ bỏ nên nếu gập ghế sau xuống sẽ có một khoang để đồ bằng phẳng và rộng rãi. Khoang chứa đồ phía sau được thiết kế tương đối rộng với thể tích 371 lit. Mẫu Sentra 2.0 S còn có bản tùy chọn "Divide-N-Hide" – khoang chứa đồ phía sau có thể phân chia làm đôi, nửa trước và sau, điều này sẽ rất thuận tiện nếu muốn để những đồ vật thường trực trên xe như túi cứu thương hoặc xẻng, đồ sửa chữa…mà không muốn ảnh hưởng tới các đồ vật khác.

3.jpg

Động cơ

Động cơ chiếc Sentra 2.0 SL mới có dung tích 2,0 lit DOHC 16 van 4 xilanh với công nghệ điều chỉnh thời điểm đóng mở xupap biến thiên liên tiếp ở tốc độ thấp giúp chiếc xe đạt hiệu suất tiêu thụ nhiên liệu tốt nhất, giảm ô nhiễm môi trường. Chiếc xe đạt 140 mã lực tại 5100 vòng/phút và có mô men xoắn 199 Nm tại 4800 vòng/phút. Một đặc điểm của mẫu Sentra 2.0 SL là sử dụng hộp số "Xtronic" hộp số vô cấp CVT nổi tiếng của Nissan. Hộp số CVT sẽ giúp cho chiếc Sentra 2.0 SL có được mức tiêu thụ nhiên liệu tốt hơn so với hộp số sàn, và khả năng gia tốc nhanh hơn. Trong cuộc test thử dưới sự kiểm tra của AJAC (Hiệp hội các nhà báo ôtô chuyên nghiệp của Canada) chiếc Sentra 2.0 SL sử dụng hộp số CVT có khả năng tăng tốc 0-100km/h mất 9,6 giây nhanh hơn với các đối thủ Hyundai Elantra, Dodge Caliber and Suzuki SX4 sử dụng hộp số tự động cũng được sản xuất trong cùng năm 2007. Khoảng thời gian này cũng có thể sánh được với Honda Civic và Toyota Corolla. Mẫu Sentra 2.0 SL có mức tiêu hao nhiên liệu được đánh gía rất  tốt khi chỉ tiêu thụ 8,2 lit/100 km khi chạy trong thành phố và 6,0 lit/100 km khi chạy trên đường cao tốc.

10.jpg

Sentra 2.0 SL trang bị tiện nghi, rất dễ lái trong thành phố, với chế độ chạy ga tự động chiếc xe khá dễ chịu và êm ả khi điều khiển chạy trên đường cao tốc. Sentra 2.0 S trạng bị phanh trước phanh đĩa và phanh sau tang trống. Hiệu suất phanh của Sentra không được tốt nếu so với các đối thủ cùng phân hạng của mình. Ở tốc dộ 100 km/h khi phanh đột ngột, quãng đường phanh của xe là 45,1 m dài hơn 6 m so với tiêu chí của AJAC, tuy nhiên dễ hiểu bởi chiếc xe sử dụng phanh tang trống phía sau. Chiếc xe di chuyển nhanh nhẹn cũng bởi do một phần sử dụng hệ thống treo độc lập trước và bán độc lập sau.

2.jpg

Giá bán

Gía cơ bản của Sentra 2.0 SL là 23.998 USD, nếu thêm 1.000 USD có thể sở hữu phiên bản sử dụng với chọn gói toàn bộ phụ kiện. Với nhiều cải tiến hơn so với mẫu Sentra cũ, model Sentra 2.0 SL 2007 rộng rãi hơn, và tiện nghi hơn, hộp số CVT giúp chiếc xe có thể đạt mức tiêu thụ nhiên liệu kinh tế nhất.

Đặc điểm gây thất vọng khách hàng của mẫu Sentra này là khả năng quan sát phía sau, hiệu suất phanh của xe, và thiết kế hình dáng bề ngoài. Sentra vẫn là một cái tên khá quen thuộc với nhiều người tiêu dùng, nhưng với thiết kế không thật sự nổi bật của mẫu Sentra mới này Nissan đã để cho ấn tượng về một mẫu xe đẹp dần phai nhạt.

  • Hiếu Nguyễn