Niềm tự hào hàng Việt
Trong đoàn công tác của thành phố vừa thăm, làm việc tại Vương quốc Anh và Cộng hòa Pháp, Giám đốc Công ty cổ phần Phúc An Trần Văn Phúc không khỏi ngạc nhiên khi thấy một đôi giày thể thao y chang sản phẩm do công ty sản xuất, được bán trong siêu thị lộng lẫy ở Pa- ri với giá 80 Ơ-rô, trong khi công ty xuất khẩu trực tiếp sang châu Âu chỉ được với giá 8 đô-la.
Theo ông Phúc, mức giá xuất khẩu 8 đô-la Mỹ đối với doanh nghiệp Việt Nam là tạm chấp nhận được, nhưng mức giá bán lẻ lên tới 80 Ơ-rô thì quả là một sự chênh lệch khá lớn.
Nhiều thành viên của đoàn công tác còn đi hết từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác khi có nhiều sản phẩm hàng hiệu nổi tiếng hẳn hoi, từ quần áo, giày các loại nhưng lật kỹ xem bên trong mới thấy xuất xứ “Made in Việt Nam”, tất nhiên là với mức giá cao gấp khoảng 10 lần so với giá xuất xưởng ở Việt Nam. Một chiếc áo sơ mi giá khoảng 500-600 đô-la Mỹ, một bộ com- ple giá khoảng 400-500 Ơ-rô thậm chí đắt hơn lên tới 1800 Ơ-rô... Trong khi theo các doanh nghiệp chuyên sản xuất hoặc đã tìm hiểu thị trường thì tại Việt Nam giá tương ứng chỉ khoảng 400.000-500.000 đồng và 9-10 triệu đồng. Tại London, hàng thủy sản, rau Việt Nam không thiếu, thứ gì cũng có, nhưng giá quá cao. Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp, một Việt kiều tại Pháp tỏ ra tiếc nuối khi rau Việt Nam rất phong phú, người Pháp và cả 300.000 người Việt tại Pháp đều rất thích nhưng chưa có nhà cung cấp nào có thể đáp ứng nổi.
Quả thật, thấy hàng Việt Nam được ưa chuộng, được bán với mức giá cao, bất cứ người Việt Nam nào cũng cảm thấy tự hào. Nhiều người có dịp ra nước ngoài quyết định không mua các loại hàng hoá với giá trên trời đó nữa mà về nước dùng hàng Việt Nam. Rõ ràng, tâm lý sính hàng ngoại đã giảm đi rất nhiều và sự thật hiển nhiên là hàng Việt Nam đang ngày càng có vị thế đáng nể, được xếp cạnh các loại hàng hoá nổi tiếng trên thế giới…
Tuy nhiên, bên cạnh niềm tự hào vẫn còn những nỗi buồn và sự day dứt. Những loại hàng hoá tốt như vậy, người Việt Nam thừa sức sản xuất nhưng dân ta không được dùng bởi tất cả theo đơn đặt hàng của nước ngoài, mẫu mã, nguyên liệu do nước ngoài cung cấp, sản phẩm do họ bao tiêu. Ông Phúc còn phản ánh nỗi buồn vì sự phụ thuộc. Nhiều loại nguyên liệu doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể khai thác được tại Trung Quốc, Đài Loan nhưng vì lý do cạnh tranh, họ tìm đủ mọi cách để làm chậm trễ tiến độ giao hàng hoặc chèn ép về giá cả. Các doanh nghiệp đều mong muốn ký được các hợp đồng xuất khẩu trực tiếp nhưng độ rủi ro quá lớn, sự phụ thuộc quá nhiều nên cuối cùng lại chọn con đường gia công cho an toàn mặc dù thu nhập thấp, lợi nhuận không đáng bao nhiêu. Trong khi đó, các sản phẩm do chính tay người Việt Nam làm ra thì vòng vèo qua nhiều con đường để rồi đội giá lên gấp hàng chục lần, mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp, tập đoàn lớn của nước ngoài.
Chính vì vậy, càng tự hào bao nhiêu, người Việt Nam lại càng day dứt bấy nhiêu và cách duy nhất hiện nay là tìm cách để thoát khỏi cảnh phụ thuộc, nhất là phụ thuộc về nguyên liệu. Đây cũng là một bài toán mà thành phố và các ngành cần lưu tâm khi kêu gọi đầu tư, khuyến khích các dự án đầu tư sản xuất nguyên, phụ liệu cho ngành da giày, dệt may, giúp các doanh nghiệp Hải Phòng và Việt Nam có thể chủ động được nguồn nguyên liệu, từ đó ký được các hợp đồng xuất khẩu trực tiếp, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và cho thành phố.
Hồng Thanh